vi_ulb/28-HOS.usfm

513 lines
38 KiB
Plaintext
Raw Permalink Blame History

This file contains ambiguous Unicode characters

This file contains Unicode characters that might be confused with other characters. If you think that this is intentional, you can safely ignore this warning. Use the Escape button to reveal them.

\id HOS
\ide UTF-8
\h Ô-Sê
\toc1 Ô-Sê
\toc2 Ô-Sê
\toc3 hos
\mt Ô-Sê
\s5
\c 1
\cl
\p
\v 1 Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Ô-sê con Bê-ê-ri trong đời Ô-xia, Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, vua Giu-đa, và trong đời Giê-rô-bô-am con Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên.
\p
\v 2 Khi Đức Giê-hô-va bắt đầu phán qua Ô-sê, Ngài nói với ông rằng, “Hãy đi, lấy một người vợ là gái điếm. Nàng sẽ có con là kết quả của việc nàng làm đĩ. Vì xứ này phạm tội điếm đĩ khi từ bỏ Ta.”
\s5
\v 3 Vậy, Ô-sê đi cưới Gô-me, con gái của Đíp-la-im, nàng thụ thai và sinh cho ông một con trai.
\p
\v 4 Đức Giê-hô-va phán với Ô-sê, “Hãy đặt tên nó là Giê-rê-ên. Vì chẳng bao lâu nữa Ta sẽ phạt nhà Giê-hu vì đã làm đổ huyết ở Giê-rê-ên, và Ta sẽ chấm dứt vương quốc của nhà Y-sơ-ra-ên.
\v 5 Trong ngày đó, Ta sẽ bẻ gãy cây cung của Y-sơ-ra-ên trong thung lũng Giê-rê-ên.”
\s5
\p
\v 6 Gô-me lại thụ thai và sinh một con gái. Sau đó, Đức Giê-hô-va bảo Ô-sê, “Hãy đặt tên đứa bé là Lô Ru-ha-ma, vì Ta sẽ không thương xót nhà Y-sơ-ra-ên nữa, Ta sẽ không tha thứ chúng nữa.
\v 7 Nhưng Ta sẽ thương xót nhà Giu-đa, và chính Ta sẽ cứu chúng, Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng. Ta sẽ không cứu chúng bằng cung, gươm, chiến trận, ngựa, hay kỵ binh.”
\s5
\p
\v 8 Bấy giờ sau khi Gô-me cho Lô Ru-ha-ma cai sữa, nàng thụ thai và sinh một con trai khác.
\v 9 Đức Giê-hô-va phán, “Hãy đặt tên nó là Lô Am-mi, vì các ngươi không phải là dân Ta, và Ta không phải là Đức Chúa Trời các ngươi.
\s5
\p
\v 10 Nhưng dân số Y-sơ-ra-ên sẽ đông như cát trên bờ biển, không thể đo hoặc đếm. Đó sẽ là nơi mà chúng được bảo rằng, Các ngươi không phải là dân Ta, chúng sẽ được bảo, Các ngươi là dân của Đức Chúa Trời hằng sống.
\v 11 Dân Giu-đa và dân Y-sơ-ra-ên sẽ được nhóm lại. Chúng sẽ chọn một người lãnh đạo, và chúng sẽ đi lên từ xứ này, vì ngày của Giê-rê-ên sẽ lớn.
\s5
\c 2
\cl
\p
\v 1 Hãy nói với anh em ngươi rằng, Hỡi dân Ta! và hãy nói với chị em ngươi rằng, “Các ngươi đã được thương xót.”
\s5
\q1
\v 2 Hãy kiện cáo mẹ các ngươi, hãy kiện đi, vì nó không phải là vợ Ta, Ta không phải là chồng nó. Hãy để nó cất sự làm điếm khỏi trước mặt nó, và hành động ngoại tình khỏi ngực nó.
\q1
\v 3 Nếu không, Ta sẽ lột trần nó và phô bày sự trần truồng nó như ngày nó được sinh ra. Ta sẽ khiến nó như hoang mạc, đất khô cằn, và Ta sẽ làm cho nó chết khát.
\s5
\q1
\v 4 Ta sẽ không thương xót con cái của nó, vì chúng là con cái của sự điếm đĩ.
\q1
\v 5 Vì mẹ chúng là điếm, người mang thai chúng đã hành động đáng xấu hổ. Nó nói, “Tôi sẽ theo các tình nhân tôi, vì họ cho tôi bánh và nước, áo len và vải lanh, dầu và rượu.”
\s5
\q1
\v 6 Vậy, Ta sẽ dựng lên một hàng rào đầy gai để ngăn nó. Ta sẽ dựng lên một bức tường cản nó để nó không thể tìm lối đi.
\q1
\v 7 Nó sẽ theo đuổi các tình nhân của nó, nhưng nó sẽ không bắt kịp họ. Nó sẽ tìm kiếm họ nhưng không tìm được. Nó sẽ nói, “Tôi sẽ trở về bên người chồng đầu tiên của tôi, vì khi trước tôi sướng hơn bây giờ.”
\s5
\q1
\v 8 Vì nó không biết rằng chính Ta là Đấng ban cho nó lúa, rượu mới và dầu, và là Đấng ban cho nó bạc và vàng, nhưng sau đó chúng đem dùng cho Ba-anh.
\q1
\v 9 Vậy Ta sẽ lấy lại lúa của nó trong mùa thu hoạch, và rượu mới theo mùa. Ta sẽ lấy lại áo len và vải lanh đã được dùng để che đậy sự trần truồng của nó.
\s5
\q1
\v 10 Ta sẽ lột trần nó trước mặt những tình nhân nó, sẽ không ai cứu nó khỏi tay Ta.
\q1
\v 11 Ta cũng sẽ chấm dứt những cuộc vui của nó những bữa yến tiệc, các lễ hội trăng mới, ngày Sa-bát, và tất cả những ngày hội được ấn định.
\s5
\q1
\v 12 Ta sẽ phá hủy cây nho và cây vả của nó, là những thứ mà nó nói, “Đây là tiền công mà các tình nhân đưa cho tôi.” Ta sẽ biến chúng thành rừng, và thú đồng sẽ ăn chúng.
\q1
\v 13 Ta sẽ phạt nó vì những ngày lễ hội của Ba-anh, là khi nó xông hương cho chúng, trang điểm bằng nhẫn và trang sức, đi theo các tình nhân của nó và quên Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
\s5
\q1
\v 14 Vậy Ta sẽ dẫn dụ nó. Ta sẽ đem nó vào trong hoang mạc và nói nhẹ nhàng với nó.
\v 15 Ta sẽ trả lại nó vườn nho, và thung lũng A-cô sẽ trở nên như cửa hy vọng. Tại đó nó sẽ trả lời Ta như nó đã làm trong ngày nó còn trẻ, như trong ngày nó ra khỏi xứ Ai Cập.
\s5
\q1
\v 16 Trong ngày đó Đức Giê-hô-va phán như vầy “ngươi sẽ gọi Ta là, Chồng tôi, và ngươi sẽ không còn gọi Ta là, Ba-anh của tôi.
\q1
\v 17 Ta sẽ loại bỏ tên của các hình tượng Ba-anh khỏi miệng nó; danh của các thần đó sẽ không còn được nhớ nữa.”
\s5
\q1
\v 18 Trong ngày đó, Ta sẽ lập giao ước vì chúng cùng với những thú đồng, chim trời, và những loài bò trên mặt đất. Ta sẽ đuổi cung, gươm, và chiến trận ra khỏi xứ, và Ta sẽ khiến ngươi nằm xuống an toàn.
\s5
\q1
\v 19 Ta sẽ hứa làm chồng ngươi mãi mãi. Ta sẽ hứa làm chồng ngươi trong sự công bình, công bằng, thành tín, và thương xót.
\q1
\v 20 Ta sẽ hứa làm chồng thành tín của ngươi. Và ngươi sẽ biết Ta, là Đức Giê-hô-va.
\s5
\q1
\v 21 Trong ngày đó, Ta sẽ trả lời Đức Giê-hô-va phán như vầy. “Ta sẽ trả lời các từng trời, và chúng sẽ trả lời trái đất.
\q1
\v 22 Đất sẽ trả lời cho lúa, rượu mới và dầu, và chúng sẽ trả lời Giê-rê-ên
\s5
\v 23 Chính Ta sẽ trồng, và Ta sẽ thương xót Lô Ru-ha-ma. Ta sẽ nói với Lô Am-mi, Ngươi là A-mi A-ta, và chúng sẽ nói với Ta rằng, Ngài là Đức Chúa Trời của chúng con.’”
\s5
\c 3
\cl
\p
\v 1 Đức Giê-hô-va phán với tôi, “Hãy đi lần nữa, hãy yêu một người đàn bà, là người được chồng thương, nhưng lại là đàn bà ngoại tình. Hãy yêu nó như Ta, Đức Giê-hô-va, yêu dân Y-sơ-ra-ên, dù chúng hướng về các thần khác và ưa bánh nho khô.”
\p
\v 2 Vậy tôi mua nàng với giá mười lăm miếng bạc và một ô-me và một tạ lúa mạch.
\v 3 Tôi bảo nàng, “Em phải sống với anh trong nhiều ngày tới. Em không được làm điếm hoặc thuộc về người đàn ông nào khác. Tương tự như vậy, anh sẽ ở với em.”
\s5
\p
\v 4 Vì dân Y-sơ-ra-ên sẽ sống trong nhiều ngày không có vua, vương tử, của tế lễ, trụ đá, áo lễ hoặc thần tượng trong nhà.
\v 5 Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở về và tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình và vua Đa-vít mình. Trong những ngày cuối, chúng sẽ rung sợ trước mặt Đức Giê-hô-va và sự tốt lành của Ngài.
\s5
\c 4
\cl
\p
\v 1 Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va, hỡi dân Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va đã kiện cáo dân cư trong xứ, vì trong xứ này không có sự chân thật hoặc lòng trung thành, không có sự nhận biết Đức Chúa Trời.
\q1
\v 2 Tại nơi đó có sự chửi rủa, nói dối, giết người, trộm cắp và tà dâm. Dân chúng vi phạm, hết sự đổ huyết này đến sự đổ huyết khác.
\s5
\q1
\v 3 Vậy xứ sẽ khô hạn, dân sống trong xứ đó sẽ hao mòn: các loài thú đồng và chim trời; ngay cả cá biển cũng bị lấy đi.
\s5
\q1
\v 4 Nhưng đừng cho bất kỳ ai kiện cáo; đừng để bất kỳ ai tố cáo nhau. Vì chính các ngươi, hỡi những thầy tế lễ, là người mà Ta tố cáo.
\v 5 Các ngươi, thầy tế lễ, sẽ vấp chân giữa ban ngày; các tiên tri cũng sẽ vấp chân với ngươi lúc ban đêm, và Ta sẽ diệt mẹ ngươi.
\s5
\q2
\v 6 Dân Ta bị hủy diệt vì thiếu sự thông biết. Vì các ngươi, thầy tế lễ, đã từ bỏ sự thông biết, Ta cũng sẽ từ bỏ các ngươi để các ngươi không làm thầy tế lễ của Ta. Vì các ngươi đã quên luật pháp Ta, dù Ta là Đức Chúa Trời các ngươi, Ta cũng sẽ quên con cái các ngươi.
\q1
\v 7 Các thầy tế lễ càng thêm nhiều, chúng càng phạm tội nhiều hơn. Ta sẽ biến danh dự của chúng thành sự hổ thẹn.
\s5
\q1
\v 8 Chúng nuôi tội lỗi của dân Ta; chúng tham lam sự gian ác của chúng nhiều hơn.
\q1
\v 9 Việc sẽ xảy ra với các thầy tế lễ tương tự như với dân: Ta sẽ phạt chúng vì những thói quen của chúng; Ta sẽ báo trả chúng vì những việc làm của chúng.
\s5
\q1
\v 10 Chúng sẽ ăn nhưng không no; chúng sẽ phạm tội điếm đĩ nhưng không sinh sản, vì chúng đã lìa xa khỏi Ta, là Đức Giê-hô-va, và từ bỏ Ta.
\s5
\q1
\v 11 Tội dâm dục tạp hôn, rượu, và rượu mới đã lấy đi sự hiểu biết của chúng.
\q1
\v 12 Dân Ta cầu vấn các hình tượng bằng gỗ của chúng, và các cây gậy thờ của chúng ban cho chúng những lời tiên tri. Vì linh tạp hôn đã dẫn chúng đi lạc lối, chúng từ bỏ Ta, là Đức Chúa Trời của chúng.
\s5
\q2
\v 13 Chúng dâng của lễ trên các đỉnh núi và xông hương trên đồi, dưới cây sồi, cây bạch dương và cây thông, vì bóng nó mát mẻ. Vậy con gái các ngươi phạm tội phóng đãng tình dục, và con dâu các ngươi phạm tội tà dâm.
\q1
\v 14 Ta sẽ phạt con gái các ngươi khi chúng phạm tội phóng đãng tình dục, hoặc con dâu các ngươi khi chúng phạm tội tà dâm. Vì đàn ông cũng đi riêng với đồ điếm đĩ, và chúng dâng của lễ để có thể phạm tội phóng đãng với bọn điếm đĩ thờ cúng. Vậy dân này là dân không hiểu sẽ suy đồi.
\s5
\q1
\v 15 Hỡi Y-sơ-ra-ên, dù các ngươi phạm tội tà dâm, chớ để Giu-đa phạm tội. Chớ đến Ghinh-ganh, hỡi dân Ta; chớ lên Bết A-ven. Và chớ thề, “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống.”
\v 16 Vì Y-sơ-ra-ên hành xử ương ngạnh, như bò cái tơ ương ngạnh. Làm sao Đức Giê-hô-va có thể đem chúng đến đồng cỏ như chiên trong đồng cỏ?
\s5
\q1
\v 17 Ép-ra-im liên kết với hình tượng; hãy để mặc nó.
\v 18 Thậm chí khi đồ uống mạnh của chúng đã tan đi, chúng tiếp tục phạm tội tà dâm; những kẻ cai trị của nó yêu mến sự sỉ nhục.
\v 19 Gió sẽ lấy cánh cuốn nó; và chúng sẽ xấu hổ vì cớ những của lễ của chúng.
\s5
\c 5
\cl
\p
\v 1 “Hãy nghe điều này, hỡi các thầy tế lễ! Hãy chú ý, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe, hỡi triều đình! Vì sự phán xét sẽ nghịch lại các ngươi. Các ngươi là cái bẫy ở Mích-pa và lưới giăng trên Ta-bô.
\v 2 Những kẻ nổi loạn lún sâu trong sự tàn sát, nhưng Ta sẽ trừng phạt tất cả bọn chúng.
\s5
\q1
\v 3 Ta biết Ép-ra-im, và Y-sơ-ra-ên không giấu được Ta. Hỡi Ép-ra-im, bây giờ ngươi giống như điếm đĩ; Y-sơ-ra-ên bị ô uế.
\q1
\v 4 Các việc làm của chúng không cho phép chúng trở về bên Ta, là Đức Chúa Trời của chúng, vì linh tà dâm ở trong chúng, và chúng không biết Ta, là Đức Giê-hô-va.
\s5
\q1
\v 5 Sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên làm chứng nghịch lại nó; vậy Y-sơ-ra-ên và Ép-ra-im sẽ vấp chân trong tội lỗi chúng; và Giu-đa cũng sẽ vấp chân với chúng.
\q1
\v 6 Chúng sẽ đi cùng bầy chiên và bầy bò mình tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng chúng sẽ không tìm được Ngài, vì Ngài đã lìa khỏi chúng.
\q1
\v 7 Chúng bất trung với Đức Giê-hô-va, vì chúng sinh ra con hoang. Bấy giờ các lễ hội trăng mới sẽ nuốt chúng cùng với đồng ruộng chúng.
\s5
\q1
\v 8 Hãy thổi tù và ở Ghi-bê-a, và thổi kèn ở Ra-ma. Hãy trỗi tiếng la xông trận tại Bết A-ven: Chúng tôi sẽ theo ngươi, hỡi Bên-gia-min!
\q1
\v 9 Ép-ra-im sẽ thành nơi bị tàn phá trong ngày sửa phạt. Giữa các chi phái của Y-sơ-ra-ên Ta đã rao điều chắc chắn sẽ xảy đến.
\s5
\q1
\v 10 Các lãnh đạo Giu-đa như những kẻ dời mốc ranh giới. Ta sẽ giáng cơn thạnh nộ Ta trên chúng như nước đổ.
\q1
\v 11 Ép-ra-im bị nghiền nát; nó bị nghiền nát trong sự đoán xét, vì nó đã quyết định quỳ lạy trước các thần tượng.
\s5
\q1
\v 12 Vậy, Ta giống như bướm đêm cho Ép-ra-im, và như sự mục nát cho nhà Giu-đa.
\q1
\v 13 Khi Ép-ra-im thấy bệnh mình, và Giu-đa thấy vết thương mình, Ép-ra-im đi đến A-sy-ri, và Giu-đa sai các sứ giả đến gặp vua lớn. Nhưng nó không thể điều trị dân ngươi hoặc chữa lành vết thương ngươi.
\s5
\q1
\v 14 Vậy Ta sẽ như sư tử cho Ép-ra-im, và sư tử con cho nhà Giu-đa. Ta, thậm chí Ta, sẽ cắn xé rồi bỏ đi; Ta sẽ tha chúng đi, và sẽ không ai cứu chúng.
\q1
\v 15 Ta sẽ đi và trở về nơi của Ta, cho đến khi chúng nhận biết tội lỗi chúng và tìm kiếm mặt Ta, cho đến khi chúng nghiêm túc tìm kiếm Ta trong cơn đau khổ của chúng.”
\s5
\c 6
\cl
\p
\v 1 “Hãy đến, chúng ta hãy trở về với Đức Giê-hô-va. Vì Ngài đã xé tan chúng ta, nhưng Ngài sẽ chữa lành chúng ta; Ngài đã làm chúng ta bị thương, nhưng Ngài sẽ băng bó vết thương chúng ta.
\q1
\v 2 Hai ngày sau, Ngài sẽ làm cho chúng ta sống lại; Ngài sẽ dấy chúng ta lên vào ngày thứ ba, và chúng ta sẽ sống trước mặt Ngài.
\q1
\v 3 Chúng ta hãy nhận biết Đức Giê-hô-va; chúng ta hãy cố gắng nhận biết Đức Giê-hô-va. Sự hiện ra của Ngài là chắc chắn như bình minh; Ngài sẽ đến với chúng ta như mưa rào, như mưa xuân tưới trên xứ.”
\s5
\q1
\v 4 Hỡi Ép-ra-im, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Hỡi Giu-đa, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Sự trung tín của ngươi như mây buổi sáng, như sương tan lúc sáng sớm.
\q1
\v 5 Vậy Ta đã dùng các tiên tri cắt chúng thành nhiều mảnh, Ta đã giết chúng bằng lời của miệng Ta. Những sắc lệnh của Ngài như ánh sáng tỏa sáng.
\s5
\q1
\v 6 Vì Ta ưa thích lòng trung thành chứ không phải của tế lễ, và sự nhận biết Ta, là Đức Chúa Trời, hơn là của lễ thiêu.
\q1
\v 7 Như A-đam, chúng đã vi phạm giao ước; chúng không trung thành với Ta.
\s5
\q1
\v 8 Ghi-lê-át là thành có nhiều kẻ làm ác, đầy dẫy dấu chân dính huyết.
\q1
\v 9 Như những băng đảng trộm cướp rình người, các thầy tế lễ cũng tụ họp lại để giết người trên đường đến Si-chem; chúng phạm những tội ác đáng hổ thẹn.
\s5
\q1
\v 10 Ta đã thấy một điều kinh khủng trong nhà Y-sơ-ra-ên; Ép-ra-im phạm tội điếm đĩ, và Y-sơ-ra-ên thì ô uế.
\q1
\v 11 Hỡi Giu-đa, ngươi cũng vậy, mùa gặt đã được định, ấy là khi Ta phục hồi vận mệnh của dân Ta.
\s5
\c 7
\cl
\p
\v 1 Hễ khi nào Ta muốn chữa lành Y-sơ-ra-ên, thì tội lỗi của Ép-ra-im bị phơi bày, cũng như những việc làm gian ác của Sa-ma-ri, vì chúng làm sự giả dối; tên trộm vào trong, và nhóm cướp bóc tấn công ngoài đường.
\q1
\v 2 Chúng không nhận thức trong lòng rằng Ta nhớ tất cả việc ác của chúng. Bây giờ việc làm của chúng bao vây chúng; chúng ở trước mặt Ta.
\s5
\q1
\v 3 Chúng lấy sự gian ác làm vua vui lòng, và lấy những lời dối trá làm hài lòng các quan chức.
\q1
\v 4 Tất cả bọn chúng đều là những kẻ tà dâm, như cái lò được người nướng bánh đốt lửa, thôi chụm lửa từ khi nhào bột đến khi bột dậy lên.
\q1
\v 5 Trong ngày của vua chúng ta, các quan chức ngã bệnh vì độ nóng của rượu. Vua bắt tay với những người nhạo báng.
\s5
\q1
\v 6 Với lòng như cái lò, chúng nghĩ ra những kế hoạch lừa dối. Cơn giận của chúng cháy âm ỉ thâu đêm; đến sáng thì nó bùng lên như một ngọn lửa.
\q1
\v 7 Tất cả bọn chúng đều nóng như cái lò, và chúng cắn nuốt những kẻ cai trị chúng. Hết thảy các vua của chúng đã ngã; không ai trong số chúng kêu cầu Ta.
\s5
\q1
\v 8 Ép-ra-im xen lẫn với các dân khác, Ép-ra-im là cái bánh phẳng chưa được lật qua mặt kia.
\q1
\v 9 Dân ngoại quốc nuốt sức mạnh nó, nhưng nó không biết. Trên đầu nó lốm đốm tóc bạc, nhưng nó không biết.
\s5
\q1
\v 10 Sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên làm chứng nghịch lại nó; tuy nhiên, trong mọi sự này, chúng không trở về bên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, chúng không tìm kiếm Ngài.
\q1
\v 11 Ép-ra-im như chim bồ câu, khờ dại và thiếu nhận thức, kêu cầu Ai Cập, rồi bay đến A-sy-ri.
\s5
\q1
\v 12 Khi chúng đi, Ta sẽ giăng lưới trên chúng, Ta sẽ đem chúng nó xuống như chim trời. Ta sẽ phạt chúng khi chúng hội họp nhau.
\q1
\v 13 Khốn cho chúng! Vì chúng đã lầm đường lạc lối khỏi Ta. Sự tàn phá sẽ đến với chúng! Chúng đã chống nghịch Ta! Lẽ ra Ta sẽ cứu chúng, nhưng chúng nói những lời giả dối nghịch lại Ta.
\s5
\q1
\v 14 Chúng không hết lòng kêu cầu Ta, nhưng chúng rên rĩ trên giường mình. Chúng tự rạch da mình để thu được lúa và rượu mới, và chúng lìa bỏ Ta.
\q1
\v 15 Dù Ta đã huấn luyện chúng và thêm sức mạnh cho tay chúng, nhưng bây giờ chúng toan mưu ác nghịch lại Ta.
\s5
\q1
\v 16 Chúng trở về, nhưng chúng không trở về với Ta, là Đấng Chí Cao. Chúng như cây cung hỏng. Các quan chức của chúng sẽ ngã xuống bởi gươm dao vì lưỡi chúng buông lời láo xược. Chúng sẽ bị nhạo báng trong xứ Ai Cập.
\s5
\c 8
\cl
\p
\v 1 “Môi ngươi hãy thổi kèn. Một con đại bàng sẽ đến trên nhà của Ta, là Đức Giê-hô-va. Việc này sẽ xảy ra vì dân này đã vi phạm giao ước Ta và chống lại luật pháp Ta.
\q1
\v 2 Chúng kêu cầu Ta, Lạy Đức Chúa Trời tôi, ở Y-sơ-ra-ên chúng con biết Ngài.
\q1
\v 3 Nhưng Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ điều lành, kẻ thù sẽ theo đuổi nó.
\s5
\q1
\v 4 Chúng đã lập lên các vua mà không bởi Ta. Chúng đã lập lên các vương tử mà Ta không biết. Chúng dùng bạc và vàng để dựng nên những thần tượng, nhưng hầu cho chúng bị dứt đi.”
\v 5 Các tiên tri nói, “Hỡi Sa-ma-ri, bò con của ngươi đã bị ném đi rồi.” Đức Giê-hô-va phán, “Cơn giận của Ta nổi bừng nghịch lại dân này. Chúng sẽ ô uế cho đến bao giờ?
\s5
\q2
\v 6 Vì thần tượng này đến từ Y-sơ-ra-ên; một người thợ đã chế ra nó; nó không phải là Đức Chúa Trời! Bò con của Sa-ma-ri sẽ vỡ vụn.
\q1
\v 7 Dân chúng gieo gió và gặt gió xoáy. Cây lúa đang đứng không có bông lúa; nó không sinh ra bột mì. Nếu nó chín, dân ngoại sẽ ăn nuốt hết.
\s5
\q1
\v 8 Y-sơ-ra-ên sẽ bị nuốt; bây giờ chúng nằm giữa các nước như đồ vô dụng.
\q1
\v 9 Vì chúng đã đi lên A-sy-ri như lừa rừng đi một mình. Ép-ra-im đã trả tiền cho các tình nhân nó.
\q1
\v 10 Dù chúng đã trả tiền cho các tình nhân giữa các nước, nay Ta sẽ nhóm chúng lại. Chúng sẽ bắt đầu hao mòn vì sự áp bức của vua các vương tử.
\s5
\q1
\v 11 Ép-ra-im đã thêm nhiều bàn thờ dâng của lễ chuộc tội, nhưng trái lại chúng trở thành những bàn thờ mà chúng phạm tội.
\q1
\v 12 Ta có thể ghi xuống luật pháp của Ta cho chúng mười ngàn lần, nhưng chúng sẽ xem luật pháp ấy như thứ lạ lẫm với chúng.
\s5
\q1
\v 13 Còn về các của tế lễ dâng cho Ta, chúng dâng thịt và ăn, nhưng Ta, Đức Giê-hô-va, không chấp nhận những của lễ ấy. Bây giờ Ta sẽ nhớ lại tội ác chúng và trừng phạt tội lỗi chúng. Chúng sẽ trở về Ai Cập.
\q1
\v 14 Y-sơ-ra-ên đã quên Ta, Đấng Tạo dựng của nó, và nó đã xây các cung điện. Giu-đa đã xây nhiều thành trì kiên cố, nhưng Ta sẽ giáng lửa trên các thành của nó; lửa sẽ hủy diệt các pháo đài của nó.”
\s5
\c 9
\cl
\p
\v 1 “Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ vui mừng hớn hở như những dân khác. Vì các ngươi phản bội, từ bỏ Đức Chúa Trời các ngươi. Các ngươi thích trả tiền công cho điếm đĩ trên các sân đạp lúa.
\q1
\v 2 Nhưng sân đạp lúa và hầm ép rượu sẽ không nuôi chúng; chúng sẽ không có rượu mới.
\s5
\q1
\v 3 Chúng sẽ không sống trong xứ của Đức Giê-hô-va nữa; trái lại, Ép-ra-im sẽ quay về Ai Cập, và một ngày kia chúng sẽ ăn thức ăn ô uế ở A-sy-ri.
\q1
\v 4 Chúng sẽ không đổ của lễ quán bằng rượu cho Đức Giê-hô-va, chúng sẽ không làm Ngài vui lòng. Các của tế lễ của chúng sẽ như thức ăn của người tang chế: ai ăn đồ ăn đó sẽ bị ô uế. Vì thức ăn đó sẽ chỉ được dành cho chúng; nó không được mang vào nhà của Đức Giê-hô-va.
\s5
\q1
\v 5 Các ngươi sẽ làm gì vào ngày lễ hội đã định, tức là lễ hội dành cho Đức Giê-hô-va?
\q1
\v 6 Vì kìa, nếu chúng thoát khỏi sự hủy diệt, Ai Cập sẽ nhóm chúng lại, và Mem-phi sẽ chôn chúng. Các kho bạc của chúng chà chuôm sắt nhọn sẽ bao trùm, và gai góc sẽ mọc đầy lều chúng.
\s5
\q1
\v 7 Các ngày trừng phạt sẽ đến; những ngày báo thù sẽ đến. Hãy cho toàn thể Y-sơ-ra-ên biết những việc này.” Tiên tri là người ngu dại, và người có cảm hứng là người điên cuồng, vì cớ tội ác lớn và hành vi thù địch lớn của các ngươi.
\s5
\q1
\v 8 Tiên tri là người ở với Đức Chúa Trời tôi là người canh gác Ép-ra-im, nhưng bẫy chim được giăng trên khắp các con đường của nó, và trong nhà Đức Chúa Trời của nó có hành vi thù địch nó.
\q1
\v 9 Chúng đã đồi bại sâu sắc như trong những ngày ở Ghi-bê-a. Đức Chúa Trời sẽ nhớ lại tội ác của chúng, và Ngài sẽ phạt tội lỗi của chúng.
\s5
\q1
\v 10 Đức Giê-hô-va phán, “Khi Ta tìm thấy Y-sơ-ra-ên, nó như những trái nho trong hoang mạc. Ta đã tìm thấy tổ phụ các ngươi như trái đầu mùa trên cây vả. Nhưng chúng đến Ba-anh Phê-ô, và phó mình vào thần tượng đáng xấu hổ đó. Chúng trở nên ghê tởm như thần tượng chúng yêu.
\s5
\q1
\v 11 Còn về Ép-ra-im, vinh quang của chúng sẽ bay mất như chim. Sẽ không có sự sinh đẻ, mang thai, và thụ thai.
\q1
\v 12 Dù chúng đã sinh con, Ta sẽ cất chúng đi đến nỗi không còn lại ai. Khốn cho chúng khi Ta rời bỏ chúng!
\s5
\q1
\v 13 Ta có thấy Ép-ra-im, như Ty-rơ, được trồng trên đồng cỏ, nhưng Ép-ra-im sẽ dẫn con cái nó đến kẻ tàn sát.”
\q1
\v 14 Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban cho họ - Ngài sẽ ban gì cho họ? Xin ban cho họ một tử cung sẩy thai và ngực không có sữa.
\s5
\q1
\v 15 “Vì cớ hết thảy sự gian ác của chúng ở Ghinh-ganh, đó là nơi Ta bắt đầu ghét chúng. Vì cớ những việc làm tội lỗi của chúng, Ta sẽ đuổi chúng ra khỏi nhà Ta. Ta sẽ không yêu chúng nữa; tất cả các quan chức của nó đều là những kẻ nổi loạn.
\s5
\q1
\v 16 Ép-ra-im bị bệnh; rễ của chúng bị khô cằn; chúng không sinh bông trái. Ngay cả nếu chúng có con cái, Ta sẽ giết con cái yêu dấu của chúng.”
\q1
\v 17 Đức Chúa Trời của tôi sẽ từ bỏ họ vì họ không vâng phục Ngài. Họ sẽ trở thành những người lang thang giữa các nước.
\s5
\c 10
\cl
\p
\v 1 Y-sơ-ra-ên là cây nho sum suê sinh ra trái. Khi nó ra nhiều trái, thì nó lập càng nhiều bàn thờ hơn. Khi đất của nó phồn thịnh hơn, nó cải tạo các trụ thờ của nó.
\q1
\v 2 Lòng chúng giả dối; nay chúng phải gánh chịu tội lỗi chúng. Đức Giê-hô-va sẽ đánh đổ các bàn thờ của chúng; Ngài sẽ phá hủy các trụ thờ của chúng.
\s5
\q1
\v 3 Bấy giờ chúng sẽ nói, “Chúng tôi không có vua, vì chúng tôi không sợ Đức Giê-hô-va. Và vua ông ấy có thể làm gì được cho chúng ta?”
\q1
\v 4 Chúng nói những lời sáo rỗng và lập giao ước bằng cách thề dối. Vậy công lý nảy mầm như cỏ độc trên các luống cày ở ruộng. Bấy giờ chúng sẽ nói, “Chúng tôi không có vua, vì chúng tôi không sợ Đức Giê-hô-va. Và vua ông ấy có thể làm gì được cho chúng ta?” Chúng nói những lời sáo rỗng và lập giao ước bằng cách thề dối. Vậy công lý nảy mầm như cỏ độc trên các luống cày ở ruộng.
\s5
\q1
\v 5 Dân cư Sa-ma-ri sẽ sợ hãi vì những bò con của Bết A-ven. Dân của nó than khóc vì chúng, như những thầy tế lễ thờ thần tượng vốn hớn hở nơi chúng và sự lộng lẫy của chúng, nhưng chúng không còn ở đó nữa.
\q1
\v 6 Chúng sẽ bị đem qua A-sy-ri làm quà tặng vua lớn. Ép-ra-im sẽ bị ghét bỏ, và Y-sơ-ra-ên sẽ hổ thẹn vì làm theo lời khuyên của các thần tượng.
\s5
\q1
\v 7 Vua Sa-ma-ri sẽ bị tiêu diệt, như mảnh gỗ trên mặt nước.
\q1
\v 8 Các điện thờ của sự gian ác tức là tội lỗi của Y-sơ-ra-ên sẽ bị tiêu hủy. Gai góc và cây kế sẽ mọc trên các bàn thờ của chúng. Dân chúng sẽ bảo núi, “Hãy đè chúng tôi!” và với đồi, “Hãy đổ sập trên chúng tôi!”
\s5
\q1
\v 9 “Hỡi Y-sơ-ra-ên, các ngươi đã phạm tội từ những ngày ở Ghi-bê-a; các ngươi vẫn còn tại đó. Chiến tranh không bắt kịp những kẻ làm ác ở Ghi-bê-a sao?
\s5
\q1
\v 10 Khi nào Ta muốn, Ta sẽ kỷ luật chúng. Các nước sẽ nhóm lại chống nghịch chúng và xiềng xích chúng vì tội ác lớn gấp đôi của chúng.
\q1
\v 11 Ép-ra-im là bò cái tơ đã thuần hóa, nó thích đạp lúa, vậy Ta sẽ đặt một ách lên cái cổ xinh đẹp của nó. Ta sẽ đặt ách lên Ép-ra-im; Giu-đa sẽ cày; Gia-cốp sẽ kéo bừa.
\s5
\q1
\v 12 Hãy gieo sự công bình và gặt bông trái của sự thành tín theo giao ước. Hãy xới đất chưa cày xới, vì đây là lúc tìm kiếm Đức Giê-hô-va, cho đến khi Ngài đến và ban mưa công bình trên ngươi.
\q1
\v 13 Ngươi đã cày sự gian ác, gặt sự bất công. Ngươi đã ăn bông trái của sự lừa dối vì ngươi cậy vào các kế hoạch của mình và đội quân đông đảo của ngươi.
\s5
\q1
\v 14 Vậy sự náo động chiến tranh sẽ nổi lên từ giữa dân ngươi, và các thành trì kiên cố của ngươi sẽ bị hủy diệt. Như Sanh-man đã tiêu diệt Bết Ạc-bên trong ngày tranh chiến, là khi người mẹ bị đánh tan nát cùng với con cái.
\q1
\v 15 Vậy hỡi Bê-tên, điều đó sẽ xảy đến với ngươi vì cớ tội ác lớn của ngươi. Vừa lúc rạng đông, vua Y-sơ-ra-ên sẽ bị diệt hoàn toàn.”
\s5
\c 11
\cl
\p
\v 1 “Khi Y-sơ-ra-ên còn nhỏ, Ta yêu nó, và Ta đã gọi con trai Ta ra khỏi Ai Cập.
\q1
\v 2 Chúng càng được gọi, chúng càng ngoảnh mặt. Chúng dâng tế lễ cho các tượng Ba-anh và xông hương cho các thần tượng.
\s5
\q1
\v 3 Nhưng chính Ta là Đấng đã dạy Ép-ra-im bước đi. Chính tay Ta bồng ẵm chúng, nhưng chúng không biết rằng Ta chăm sóc chúng.
\q1
\v 4 Ta dùng dây nhân tình và băng yêu thương mà dẫn dắt chúng. Đối với chúng, Ta giống như người nới ách trên hàm chúng, Ta cúi xuống và cho chúng ăn.
\s5
\q1
\v 5 Chúng sẽ không trở về xứ Ai Cập sao? A-sy-ri sẽ không cai trị chúng vì chúng không chịu về bên Ta sao?
\q1
\v 6 Gươm dao sẽ rơi trên các thành phố của chúng và phá hủy các then cửa; gươm sẽ hủy diệt chúng vì cớ những kế hoạch của chúng.
\q1
\v 7 Dân Ta quyết định ngoảnh mặt khỏi Ta. Dù chúng kêu cầu Ta, Ta là Đấng ngự trên cao, nhưng sẽ không ai giúp chúng.
\s5
\q1
\v 8 Làm sao Ta có thể từ bỏ ngươi, hỡi Ép-ra-im? Làm sao Ta có thể phó ngươi cho kẻ khác, hỡi Y-sơ-ra-ên? Làm sao Ta có thể khiến ngươi giống như Át-ma? Làm sao Ta có thể khiến ngươi như Sê-bô-im? Lòng Ta đã thay đổi trong Ta; lòng thương xót của Ta đã nhen lên.
\q1
\v 9 Ta sẽ không thực thi cơn giận sôi sục của Ta; Ta sẽ không tiêu diệt Ép-ra-im. Vì Ta là Đức Chúa Trời chứ không phải là người phàm; Ta là Đấng Thánh ở giữa ngươi, Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ.
\s5
\q1
\v 10 Chúng sẽ bước theo Ta, là Đức Giê-hô-va. Ta sẽ gầm như sư tử. Ta sẽ gầm lên, và dân ở phương tây sẽ run sợ mà đến.
\q1
\v 11 Chúng sẽ run sợ mà đến như chim bay từ Ai Cập, như bồ câu từ xứ A-sy-ri. Ta sẽ cho chúng sống trong nhà chúng.” Đức Giê-hô-va phán như vậy
\s5
\v 12 “Ép-ra-im vây quanh Ta bằng sự giả dối, và nhà Y-sơ-ra-ên dùng sự lừa gạt. Nhưng Giu-đa vẫn kính sợ Đức Chúa Trời và trung thành với Đấng Thánh.”
\s5
\c 12
\cl
\p
\v 1 Ép-ra-im đón gió và theo gió đông. Nó luôn thêm lời nói dối và bạo lực. Chúng lập giao ước với A-sy-ri và đem cây ô-liu qua Ai Cập.
\q1
\v 2 Đức Giê-hô-va cũng kiện cáo Giu-đa và sẽ phạt Gia-cốp về việc ông đã làm; Ngài sẽ báo trả ông vì những việc làm của ông.
\s5
\q1
\v 3 Gia-cốp nắm gót chân anh mình trong tử cung, và vật lộn với Đức Chúa Trời khi trưởng thành.
\q1
\v 4 Ông vật lộn với thiên sứ và thắng. Ông khóc và van nài Đấng ấy ban ơn. Ông gặp Đức Chúa Trời tại Bê-tên; Ngài phán với ông tại đó.
\s5
\q1
\v 5 Ngài là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân; danh phải kêu cầu muôn đời của Ngài là “Giê-hô-va.”
\q1
\v 6 Vậy hãy trở về với Đức Chúa Trời của quý vị
\s5
\v 7 Các lái buôn cầm cân giả trong tay; họ thích ăn gian.
\q1
\v 8 Ép-ra-im nói, “Tôi chắc chắn đã trở nên rất giàu có rồi; tôi đã tìm thấy của cải cho chính mình. Trong mọi việc làm của tôi, họ sẽ không tìm thấy ở tôi bất cứ lỗi gì, sẽ không có bất cứ tội lỗi nào cả.”
\s5
\q1
\v 9 “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, Đấng ở cùng ngươi từ khi ngươi ra khỏi xứ Ai Cập. Ta sẽ làm cho ngươi sống trong lều trại như trong những ngày lễ hội đã định.
\q1
\v 10 Ta cũng đã phán với các tiên tri, và Ta ban cho họ nhiều sự hiện thấy về ngươi. Ta ban cho các ngươi những ngụ ngôn qua chính các tiên tri.”
\s5
\q1
\v 11 Nếu ở Ghi-lê-át có sự gian ác, chắc chắn dân sự không xứng đáng. Chúng cúng tế bò đực tại Ghi-lê-át; bàn thờ của chúng sẽ như đống đá nơi các luống cày ngoài đồng.
\q1
\v 12 Gia-cốp chạy trốn qua xứ A-ram; Y-sơ-ra-ên làm việc đặng cưới vợ; và ông chân bầy chiên để có vợ.
\s5
\q1
\v 13 Đức Giê-hô-va đã dùng một tiên tri để đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, và Ngài chăm sóc họ qua một tiên tri.
\q1
\v 14 Ép-ra-im đã chọc giận Đức Giê-hô-va một cách đắng cay. Vậy Chúa của nó sẽ bắt nó lãnh hậu quả của tội làm đổ huyết và sẽ báo trả nó vì những việc làm đáng hổ thẹn của nó.
\s5
\c 13
\cl
\p
\v 1 “Khi Ép-ra-im nói, có sự run sợ. Nó tự tôn cao mình trong Y-sơ-ra-ên, nhưng nó đã mắc tội vì thờ Ba-anh, và nó chết.
\q1
\v 2 Bây giờ chúng phạm tội càng ngày càng nhiều hơn. Chúng đúc tượng bằng bạc, tức là những thần tượng khéo được dựng, tất cả đều là do thợ thủ công làm ra. Người ta nói về chúng rằng, Những kẻ dâng tế lễ này hôn bò con.
\s5
\q1
\v 3 Vậy chúng sẽ như mây buổi sáng, như sương ban mai chóng tan, như rơm rạ bị gió cuốn khỏi sân đạp lúa, và như khói bay ra khỏi lò sưởi.
\s5
\q1
\v 4 Nhưng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ai Cập. Ngươi không được thừa nhận thần nào khác ngoài Ta; ngươi phải thừa nhận rằng ngoài Ta, không có đấng giải cứu chuộc nào khác.
\q1
\v 5 Ta đã biết ngươi trong hoang mạc, trong xứ khô cằn.
\q1
\v 6 Khi ngươi có đồng cỏ, ngươi no nê; và khi ngươi no nê, lòng ngươi tự cao; vì lẽ đó ngươi quên Ta.
\s5
\q1
\v 7 Ta trở nên như sư tử đối với chúng; Ta sẽ rình rập bên đường như con báo.
\q1
\v 8 Ta sẽ vồ chúng như gấu bị cướp mất gấu con. Ta sẽ xé toạc lồng ngực chúng, và Ta sẽ cắn xé chúng như sư tử - như thú rừng xé tan xác
\s5
\v 9 Hỡi Y-sơ-ra-ên, sự hủy diệt của ngươi đang đến, vì ngươi chống nghịch Ta, là Đấng giúp đỡ ngươi.
\q1
\v 10 Bây giờ vua của ngươi đâu, để nó cứu ngươi trong tất cả các thành? Những kẻ cai trị ngươi đâu, tức những kẻ mà ngươi nói với Ta rằng, Xin ban cho tôi một vua và các vương tử?
\q1
\v 11 Trong cơn giận, Ta đã ban cho ngươi một vua, và Ta đã cất nó trong cơn thịnh nộ của Ta.
\s5
\q1
\v 12 Tội của Ép-ra-im bị chất đầy; tội lỗi nó bị cất giữ.
\q1
\v 13 Nó sẽ mang cơn đau đẻ, nhưng nó là con trai không khôn ngoan, vì khi đến lúc chào đời, nó không ra khỏi tử cung.
\s5
\q1
\v 14 Thật Ta sẽ giải cứu chúng khỏi quyền lực của âm phủ sao? Thật Ta sẽ giải cứu chúng khỏi sự chết sao? Hỡi sự chết, tai họa của mày ở đâu? Hãy đem chúng đến đây. Hỡi âm phủ, sự tiêu diệt của mày ở đâu? Hãy đem nó đến đây. Sự thương xót bị giấu khỏi mắt Ta.”
\s5
\q1
\v 15 Dù Ép-ra-im thịnh vượng giữa các anh em mình, nhưng một cơn gió đông sẽ đến; gió của Đức Giê-hô-va sẽ thổi lên từ hoang mạc. Suối của Ép-ra-im sẽ khô cạn, giếng nó sẽ không có nước. Kẻ thù nó sẽ cướp kho chứa bảo vật của nó.
\s5
\q1
\v 16 Sa-ma-ri sẽ mang tội, vì nó nổi loạn nghịch lại Đức Chúa Trời của nó. Chúng sẽ ngã xuống bởi gươm dao; con cái chúng sẽ bị đập nát, và đàn bà có thai của chúng sẽ bị mổ bụng.
\s5
\c 14
\cl
\p
\v 1 Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở về bên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, vì ngươi đã vấp ngã vì cớ tội ác ngươi.
\q1
\v 2 Hãy nói lời ăn năn và trở về bên Đức Giê-hô-va. Hãy thưa với Ngài, “Xin Ngài cất bỏ mọi tội ác của chúng con và tỏ lòng nhân từ chấp nhận chúng con, để chúng con dâng Ngài lời ngợi khen, là bông trái từ môi miệng chúng con.
\s5
\q1
\v 3 A-sy-ri sẽ không cứu chúng con; chúng con sẽ không cưỡi ngựa ra trận. Chúng con sẽ không còn nói với công việc của tay chúng con rằng, Ngài là thần của chúng tôi, vì người mồ côi cha tìm được sự thương xót trong Ngài.”
\s5
\q1
\v 4 “Ta sẽ chữa lành chúng khi chúng quay lại với Ta sau khi từ bỏ Ta; Ta sẽ yêu thương chúng hết lòng, vì cơn giận Ta đã xây khỏi nó.
\q1
\v 5 Ta sẽ như sương móc cho Y-sơ-ra-ên; Ta sẽ trổ hoa như hoa huệ và đâm rễ như cây tuyết tùng ở Li-băng.
\q2
\v 6 Các nhánh nó sẽ dang ra; sự xinh đẹp của nó sẽ như cây ô-liu, và hương thơm của nó sẽ như cây tuyết tùng ở Li-băng.
\s5
\q1
\v 7 Dân sống dưới bóng nó sẽ trở về; chúng sẽ hồi sinh như lúa và trổ hoa như cây nho. Danh tiếng nó sẽ như rượu Li-băng.
\q1
\v 8 Ép-ra-im sẽ nói, Tôi còn phải làm gì nữa với các thần tượng? Ta sẽ trả lời nó và chăm sóc nó. Ta giống như cây bách có lá luôn xanh; từ nơi Ta sinh ra trái của ngươi.”
\s5
\q1
\v 9 Ai khôn ngoan để hiểu những sự này? Ai thông hiểu những sự này để biết chúng? Vì đường lối của Đức Giê-hô-va là đúng đắn, người công bình sẽ bước đi trên đó, nhưng kẻ chống nghịch sẽ vấp chân trên đó.