man_vgm_vi_volt_psa_book/psa.usfm

7678 lines
336 KiB
Plaintext
Raw Normal View History

2020-12-23 07:57:29 +00:00
\id PSA unfoldingWord Literal Text
\usfm 3.0
\ide UTF-8
\h Thi-thiên
\toc1 Thi-thiên
\toc2 Thi
\toc3 Thi
\mt Thi-thiên
\s5
\c 1
\p
\v 1 Phước cho người nào không bước đi theo lời chỉ bảo của kẻ ác, không đứng chung đường với tội nhân, không ngồi trong hội của bọn người hay nhạo báng.
\s5
\v 2 Nhưng vui về luật pháp của Chúa Hằng Hữu, ngày đêm suy ngẫm luật pháp Ngài.
\s5
\v 3 Người đó sẽ như cây trồng cạnh suối nước, ra trái theo mùa, lá nó không khô héo, mọi việc người làm đều sẽ thịnh vượng.
\s5
\v 4 Kẻ ác thì không như vậy, mà giống như rơm rạ bị gió đùa đi.
\s5
\v 5 Cho nên kẻ ác sẽ không đứng nổi khi bị phán xét, tội nhân cũng không được ở trong hội người công chính.
\s5
\v 6 Vì Chúa Hằng Hữu tán thành đường lối người công chính, nhưng đường lối kẻ ác sẽ bị hư vong.
\s5
\c 10
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, sao Ngài lại đứng cách xa? Vì sao Ngài ẩn mình trong những lúc nguy nan?
\s5
\v 2 Vì thiếu hiểu biết nên kẻ ác săn đuổi người khốn cùng; nhưng xin Chúa khiến chúng vướng vào các mưu chước mà chúng đã toan tính.
\s5
\v 3 Vì kẻ ác khoe khoang về dục vọng sâu kín nhất của hắn; hắn sùng bái kẻ tham lam và xúc phạm Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 4 Kẻ ác có bộ mặt vênh váo; hắn chẳng tìm kiếm Thiên Chúa. Hắn chưa từng nghĩ đến Thiên Chúa vì hắn chẳng hề quan tâm đến Ngài.
\s5
\v 5 Hắn luôn được an ninh, nhưng các sắc lệnh công bình của Ngài quá cao đối với hắn; hắn khinh thường mọi kẻ thù mình.
\s5
\v 6 Hắn nói trong lòng: “Ta sẽ không bao giờ lụn bại; trải suốt các đời ta sẽ chẳng gặp nghịch cảnh.”
\s5
\v 7 Miệng hắn đầy sự rủa sả, dối trá và tàn độc; dưới lưỡi hắn là sự nguy hại và điều gian ác.
\s5
\v 8 Hắn rình rập gần các ngôi làng; tại những nơi ẩn khuất, hắn ra tay giết người vô tội; mắt hắn tìm kiếm nạn nhân cô thế.
\s5
\v 9 Hắn len lén chực chờ như sư tử nơi bụi rậm; hắn mai phục vồ lấy người khốn khổ. Hắn giăng lưới bắt những kẻ khốn cùng.
\s5
\v 10 Con mồi của hắn bị đè bẹp và đánh gục; họ mắc vào lưới bẫy của hắn.
\s5
\v 11 Hắn nói trong lòng: “Thiên Chúa đã quên rồi; Ngài đã che mặt lại; Ngài sẽ không màng để mắt đến.”
\s5
\v 12 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin trổi dậy; lạy Thiên Chúa, xin đưa tay Ngài lên mà đoán xét. Xin Chúa đừng quên người cùng khốn.
\s5
\v 13 Vì sao kẻ ác khước từ Thiên Chúa và nói trong lòng rằng: “Ngài sẽ chẳng buộc tội tôi”?
\s5
\v 14 Chúa đã để ý, vì Ngài vẫn luôn nhìn thấy kẻ gây ra điều khốn khổ và đau buồn. Người bất lực phó mình cho Ngài; Ngài giải cứu kẻ mồ côi.
\s5
\v 15 Xin Chúa bẻ tay kẻ độc ác và người gian tà; xin bắt hắn chịu tội về các việc ác của mình mà hắn tưởng rằng Ngài sẽ không phát hiện ra.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu là Vua đến đời đời; các dân đều bị tống xuất khỏi lãnh thổ Ngài.
\s5
\v 17 Ôi Chúa Hằng Hữu, Ngài đã nghe biết các nhu cầu của kẻ cùng khốn, khiến họ thêm vững lòng, nghe lời cầu nguyện của họ;
\s5
\v 18 Ngài bênh vực kẻ mồ côi và người chịu áp bức, để chẳng một người nào trên đất sẽ lại gieo rắc kinh hoàng.
\s5
\c 100
\p
\v 1 Hỡi cả trái đất, hãy lớn tiếng reo mừng cho Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Hãy lấy lòng vui sướng phục vụ Chúa Hằng Hữu; hãy hân hoan ca hát mà đến trước mặt Ngài.
\s5
\v 3 Phải biết rằng Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa, Ngài đã dựng nên chúng tôi và chúng tôi thuộc về Ngài. Chúng tôi là dân Ngài, là chiên của đồng cỏ Ngài.
\s5
\v 4 Hãy vào các cổng Ngài với tinh thần cảm tạ, hãy vào sân đền Ngài với lời ngợi ca.
\s5
\v 5 Vì Chúa Hằng Hữu là thiện lành; lòng thành tín về giao ước Chúa hằng còn mãi, lòng chân thật Ngài trải suốt mọi thế hệ.
\s5
\c 101
\p
\v 1 Con sẽ ca hát về sự thành tín và sự công bình; lạy Chúa Hằng Hữu, con sẽ hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 2 Con sẽ bước đi trong con đường chánh trực. Ôi, khi nào Chúa mới đến với con? Con sẽ ăn ở cách liêm chính trong nhà mình.
\s5
\v 3 Con sẽ không để việc sai trái trước mắt con; con ghét điều xấu xa bất xứng; con sẽ không để nó đeo bám mình.
\s5
\v 4 Bọn người đồi bại sẽ rời xa con; con không gắn bó với điều ác.
\s5
\v 5 Con sẽ diệt trừ kẻ nào lén lút vu khống người láng giềng mình. Con sẽ không dung thứ kẻ có hành vi cao ngạo, thái độ kiêu căng.
\s5
\v 6 Con sẽ để mắt đến người trung tín trong xứ để họ được ngồi cạnh mình. Người bước đi trong con đường chánh trực sẽ được phục vụ con.
\s5
\v 7 Kẻ quen lừa lọc sẽ không được ở trong nhà con; kẻ nói dối sẽ không được chào đón trong mắt con.
\s5
\v 8 Mỗi sáng con sẽ diệt hết kẻ ác trong xứ; con sẽ loại trừ mọi kẻ làm dữ khỏi thành của Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 102
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy nghe lời cầu nguyện của con; xin Chúa nghe lời con kêu cầu Ngài.
\s5
\v 2 Xin Chúa đừng ẩn mặt với con trong lúc con gặp gian truân. Xin hãy lắng nghe con. Khi con kêu Chúa, xin Ngài mau mau đáp lời con.
\s5
\v 3 Vì ngày tháng con qua đi như mây khói, còn xương cốt con như lửa cháy.
\s5
\v 4 Lòng con tan nát, và con chẳng khác nào cỏ đã khô héo. Con quên cả ăn uống.
\s5
\v 5 Vì cứ mãi rên siết mà con đã gầy đi nhiều.
\s5
\v 6 Con giống như chim bồ nông nơi hoang mạc; con đã trở nên như chim cú giữa chốn hoang tàn.
\s5
\v 7 Con nằm thao thức như con chim cô độc, trơ trọi một mình trên mái nhà.
\s5
\v 8 Suốt ngày kẻ thù nghịch trêu chọc con; những kẻ chế nhạo con dùng tên con để nguyền rủa.
\s5
\v 9 Con ăn tro bụi như ăn bánh, còn thức uống con thì hòa với nước mắt.
\s5
\v 10 Trong cơn nóng giận, Chúa đã đem con lên để ném con xuống.
\s5
\v 11 Ngày tháng con như cái bóng phai nhạt, và con khô héo khác nào cỏ.
\s5
\v 12 Nhưng, lạy Chúa Hằng Hữu, Chúa sống đời đời, và danh tiếng Ngài cứ còn mãi suốt các thế hệ.
\s5
\v 13 Chúa sẽ trổi dậy và thương xót Si-ôn. Bây giờ là lúc Chúa xót thương nó; thời điểm đã định nay đã đến.
\s5
\v 14 Vì các tôi tớ Chúa yêu quý viên đá nó và thấy xót thương cho bụi tro hoang tàn của nó.
\s5
\v 15 Lạy Chúa Hằng Hữu, các dân sẽ kính nể danh Chúa, và mọi vua chúa trên đất sẽ tôn trọng vinh quang Ngài.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu sẽ dựng lại Si-ôn và sẽ hiện ra trong vinh quang Ngài.
\s5
\v 17 Lúc đó, Chúa sẽ đáp lại lời cầu nguyện của những kẻ cơ cực; Ngài sẽ không từ chối lời cầu xin của họ.
\s5
\v 18 Việc này sẽ được ghi lại cho các thế hệ mai sau, và một dân chưa ra đời sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 19 Vì từ các nơi cao thánh khiết Chúa đã nhìn xuống; từ trên trời Chúa Hằng Hữu đã đoái xem trái đất,
\s5
\v 20 để nghe lời than vãn của những kẻ tù tội, giải phóng những kẻ bị kết tội chết.
\s5
\v 21 Rồi người ta sẽ công bố danh Chúa Hằng Hữu tại Si-ôn, và sự ca ngợi Ngài tại Giê-ru-sa-lem
\s5
\v 22 khi các dân, các nước nhóm nhau lại để phục vụ Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 23 Chúa đã cất đi sức lực con giữa cuộc đời. Ngài đã rút ngắn ngày tháng con.
\s5
\v 24 Con đã thưa: “Lạy Thiên Chúa con, xin đừng cất con đi giữa chừng cuộc sống; Chúa hiện hữu trải suốt mọi thế hệ.
\s5
\v 25 Thuở xưa, Chúa đặt trái đất vào chỗ nó; các tầng trời là công việc của tay Chúa.
\s5
\v 26 Chúng sẽ tiêu tan, nhưng Chúa sẽ cứ còn mãi; tất cả chúng sẽ cũ đi như chiếc áo; Chúa sẽ thay chúng như thay áo, và chúng sẽ biến mất.
\s5
\v 27 Nhưng Chúa vẫn y nguyên, các năm Chúa không chấm dứt.
\s5
\v 28 Con cháu của các tôi tớ Ngài sẽ cứ sống, và dòng dõi họ sẽ được sống trong sự hiện diện của Ngài.”
\s5
\c 103
\p
\v 1 Tôi ca ngợi Chúa Hằng Hữu bằng cả đời sống; bằng tất cả những gì mình có, tôi ca ngợi danh thánh Ngài.
\s5
\v 2 Tôi ca ngợi Chúa Hằng Hữu bằng cả đời sống tôi; tôi cũng nhớ lại mọi ơn lành của Ngài.
\s5
\v 3 Ngài tha thứ mọi tội lỗi anh; Ngài chữa lành mọi bệnh tật anh.
\s5
\v 4 Ngài cứu chuộc mạng sống anh khỏi chốn hủy diệt; Ngài đội cho anh vương miện của lòng thành tín về giao ước và những hành động của lòng thương xót dịu dàng.
\s5
\v 5 Ngài khiến cuộc đời anh được thỏa nguyện với những điều tốt lành, để tuổi xuân của anh được mới lại như chim đại bàng.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu thi hành sự công bằng và làm các việc công chính cho mọi người bị áp bức.
\s5
\v 7 Ngài tỏ các đường lối Ngài cho Môi-se, các công việc Ngài cho dòng dõi Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu đầy lòng thương xót và bao dung; Ngài kiên nhẫn; lòng thành tín về giao ước Ngài rất lớn.
\s5
\v 9 Ngài sẽ không sửa phạt luôn; Ngài chẳng giận mãi.
\s5
\v 10 Ngài không đãi chúng con tương xứng với tội lỗi chúng con, không báo trả chúng con theo điều tội lỗi chúng con đáng phải chịu.
\s5
\v 11 Vì trời cao hơn đất thế nào thì lòng thành tín về giao ước Chúa đối với những kẻ tôn kính Ngài cũng lớn lao như vậy.
\s5
\v 12 Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu thì Ngài cũng đem sự vi phạm của chúng con cách xa chúng con bấy nhiêu.
\s5
\v 13 Người cha thương xót con cái mình ra sao thì Chúa Hằng Hữu cũng thương xót kẻ tôn kính Ngài giống như vậy.
\s5
\v 14 Vì Ngài biết chúng con được tạo thành thế nào; Ngài biết chúng con chỉ là cát bụi.
\s5
\v 15 Về phần con người, ngày tháng của họ giống như cỏ; người tăng trưởng khác nào bông hoa ngoài đồng.
\s5
\v 16 Gió thổi qua trên bông hoa, thì nó biến mất, chẳng ai biết nó từng mọc lên chỗ nào.
\s5
\v 17 Nhưng lòng thành tín về giao ước của Chúa Hằng Hữu đối với những kẻ tôn kính Ngài còn đến đời đời. Sự công chính của Chúa tiếp nối đến tận đời con cháu họ.
\s5
\v 18 Họ gìn giữ giao ước Chúa và không quên vâng theo các huấn thị của Ngài.
\s5
\v 19 Chúa Hằng Hữu thiết lập ngôi Ngài trên các tầng trời, và nước Ngài cai trị trên mọi người.
\s5
\v 20 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, hỡi các thiên sứ Ngài, những người có sức mạnh và vâng giữ lời Ngài, luôn tuân thủ các mạng lệnh Ngài.
\s5
\v 21 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, hỡi tất cả các đạo binh của Ngài, là các kẻ tôi tớ thi hành ý chỉ Ngài.
\s5
\v 22 Hỡi tất cả tạo vật của Chúa Hằng Hữu, hãy ca ngợi Ngài tại mọi nơi Ngài ngự trị. Tôi sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu trọn đời sống tôi.
\s5
\c 104
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa Hằng Hữu của con, con ca ngợi Chúa bằng tất cả sự sống mình; Chúa thật cao cả; Ngài khoác trên mình vẻ rực rỡ, oai nghi.
\s5
\v 2 Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng như mặc áo; Chúa giương các tầng trời ra như dựng lều.
\s5
\v 3 Chúa đặt đòn tay cho các gian phòng Ngài trên mây trời; Chúa dùng mây làm xe; Ngài bước đi trên các cánh gió.
\s5
\v 4 Chúa dùng gió làm sứ giả Ngài, dùng ngọn lửa làm tôi tớ Ngài.
\s5
\v 5 Chúa đặt nền móng cho trái đất, và nó sẽ chẳng bao giờ bị dời đổi.
\s5
\v 6 Chúa dùng nước như chiếc áo bao phủ trái đất; nước bao phủ các ngọn núi.
\s5
\v 7 Lời Chúa quở trách khiến nước rút đi; nghe tiếng như sấm rền của Chúa chúng chạy trốn.
\s5
\v 8 Các núi nhô lên, và thung lũng trải ra đúng vào nơi Chúa đã định cho chúng.
\s5
\v 9 Chúa đã đặt ranh giới cho chúng, để chúng khỏi vượt qua; chúng sẽ không bao phủ đất trở lại.
\s5
\v 10 Chúa khiến suối đổ vào thung lũng; suối chảy giữa các núi.
\s5
\v 11 Chúng cung cấp nước cho mọi loài thú đồng; lừa rừng được giải cơn khát.
\s5
\v 12 Chim xây tổ bên bờ sông; chúng líu lo giữa các nhánh cây.
\s5
\v 13 Từ các ngăn chứa nước của Chúa trên trời Chúa tưới mát các núi non. Đất tràn ngập hoa quả của công việc Ngài.
\s5
\v 14 Chúa khiến cỏ mọc lên nuôi gia súc, sinh ra cây cối cho người ta canh tác để từ đất mà có thực phẩm.
\s5
\v 15 Ngài làm ra rượu để khiến người ta vui vẻ, dầu để khiến mặt họ tươi tắn, và thức ăn để nuôi sống họ.
\s5
\v 16 Cây cối của Chúa được tưới nước dồi dào; Ngài đã trồng các cây bá hương Li-ban.
\s5
\v 17 Chim chóc làm tổ mình trên đó. Loài cò lấy cây tùng làm chỗ ở nó.
\s5
\v 18 Loài dê rừng sống trên núi cao; các đỉnh núi là nơi trú ẩn của loài thỏ.
\s5
\v 19 Chúa định cho mặt trăng đánh dấu các mùa; mặt trời biết giờ lặn nó.
\s5
\v 20 Chúa tạo nên bóng tối ban đêm, là khi mọi loài thú rừng xuất hiện.
\s5
\v 21 Sư tử tơ gầm thét săn mồi và tìm thức ăn do Thiên Chúa ban cho.
\s5
\v 22 Khi mặt trời mọc, chúng lại rút vào ngủ trong hang.
\s5
\v 23 Còn loài người lại đi ra làm việc, khó nhọc cho đến chiều tối.
\s5
\v 24 Chúa Hằng Hữu ôi, công việc của Chúa nhiều và đa dạng biết bao! Bằng sự khôn ngoan, Chúa đã làm nên tất cả; trái đất đầy dẫy công việc Ngài.
\s5
\v 25 Kia là biển cả, sâu và rộng, với vô số sinh vật, lớn có, nhỏ có.
\s5
\v 26 Tàu thuyền đi lại trên đó, và Lê-vi-a-than mà Chúa đã làm ra để chơi đùa dưới biển cũng có ở đó.
\s5
\v 27 Tất cả đều trông đợi Chúa đến bữa cho chúng ăn.
\s5
\v 28 Khi Chúa ban cho, chúng kéo đến; khi Ngài xòe tay ra, chúng được no nê.
\s5
\v 29 Khi Chúa ẩn mặt thì chúng bối rối; nếu Chúa thâu hơi thở lại thì chúng chết đi và trở về cát bụi.
\s5
\v 30 Khi Chúa sai Thần Linh Chúa ra, chúng được tạo dựng và Chúa làm mới lại vùng thôn dã.
\s5
\v 31 Nguyện vinh quang của Chúa Hằng Hữu trường tồn mãi mãi; nguyện Chúa Hằng Hữu vui thích các tạo vật của Ngài.
\s5
\v 32 Chúa nhìn xuống trái đất thì đất run rẩy; Ngài sờ vào núi non thì chúng bốc khói.
\s5
\v 33 Con sẽ ca hát cho Chúa Hằng Hữu trọn đời sống mình; còn sống bao lâu con sẽ hát ca ngợi Thiên Chúa con bấy lâu.
\s5
\v 34 Nguyện các ý tưởng con được đẹp lòng Chúa; con sẽ vui mừng nơi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 35 Nguyện kẻ phạm tội bị biến mất khỏi đất, nguyện kẻ ác không còn nữa. Con ca ngợi Chúa Hằng Hữu suốt cuộc đời mình. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 105
\p
\v 1 Hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu, hãy cầu khẩn danh Ngài; hãy tỏ các công việc Ngài ra giữa các dân.
\s5
\v 2 Hãy hát xướng cho Chúa, hãy hát ca ngợi Ngài; hãy nói đến mọi việc kỳ diệu của Ngài.
\s5
\v 3 Hãy hãnh diện trong danh thánh Ngài; nguyện lòng của những kẻ tìm kiếm Chúa Hằng Hữu được hoan hỷ.
\s5
\v 4 Hãy tìm kiếm Chúa Hằng Hữu cùng sức lực Ngài; hãy luôn tìm kiếm sự hiện diện của Ngài.
\s5
\v 5 Hãy nhớ lại những việc kỳ diệu Ngài đã làm, những phép lạ cùng các sắc lệnh Ngài truyền phán,
\s5
\v 6 hỡi các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, tôi tớ Ngài, hỡi con cháu Gia-cốp, những kẻ Ngài lựa chọn.
\s5
\v 7 Ngài là Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa chúng ta. Các sắc lệnh của Ngài dành cho toàn trái đất.
\s5
\v 8 Ngài nhớ mãi giao ước của Ngài, tức lời Ngài đã truyền phán cho đến ngàn đời.
\s5
\v 9 Ngài nhớ lại giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham, lời thề Ngài với Y-sác.
\s5
\v 10 Đó là điều Ngài đã xác nhận với Gia-cốp như một luật định, xác nhận với Y-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời.
\s5
\v 11 Ngài phán: “Ta sẽ ban cho ngươi Ca-na-an làm phần cơ nghiệp của ngươi.”
\s5
\v 12 Ngài hứa như vậy khi họ chỉ là số ít và là khách kiều ngụ trong xứ.
\s5
\v 13 Họ lang thang từ nước này qua nước khác, từ xứ này sang xứ nọ.
\s5
\v 14 Chúa không cho ai ức hiếp họ; vì cớ họ Ngài quở trách các vua.
\s5
\v 15 Ngài phán: “Đừng đụng đến những kẻ chịu xức dầu của Ta, không được làm hại các tiên tri Ta.”
\s5
\v 16 Chúa đem nạn đói đến trong xứ; Ngài cắt hết nguồn lương thực của họ.
\s5
\v 17 Chúa phái một người đi trước họ; Giô-sép đã bị bán làm tôi mọi.
\s5
\v 18 Chân người bị cùm; người phải mang xích sắt,
\s5
\v 19 cho đến khi lời tiên báo của người thành hiện thực. Lời của Chúa Hằng Hữu chứng tỏ người đã đúng.
\s5
\v 20 Nhà vua phái đầy tớ thả người ra; kẻ cầm quyền dân chúng phóng thích người.
\s5
\v 21 Vua đặt người quản lý nhà mình, cai quản mọi tài sản mình,
\s5
\v 22 để chỉ đạo các quần thần mình, dạy sự thông thái cho các bậc cao niên.
\s5
\v 23 Rồi Y-sơ-ra-ên xuống Ai Cập, và Gia-cốp sống một thời gian trong xứ của Cham.
\s5
\v 24 Thiên Chúa khiến số dân Ngài tăng thêm nhiều, cho họ mạnh hơn các kẻ thù mình.
\s5
\v 25 Ngài khiến kẻ thù nghịch căm ghét dân Ngài và ngược đãi các tôi tớ Ngài.
\s5
\v 26 Ngài sai Môi-se, tôi tớ Ngài, cùng A-rôn, người Ngài đã chọn.
\s5
\v 27 Họ thực hiện các dấu hiệu của Ngài giữa người Ai Cập, các phép lạ Ngài trong xứ của Cham.
\s5
\v 28 Chúa sai bóng tối đến, khiến xứ đó ra tối tăm, nhưng dân xứ ấy không vâng theo mạng lệnh Ngài.
\s5
\v 29 Ngài biến nước trong xứ thành ra máu và hại chết cá của chúng.
\s5
\v 30 Xứ sở chúng, ngay cả trong cung thất của vua quan, đều tràn ngập ếch nhái.
\s5
\v 31 Chúa phán, thì ruồi muỗi từng đàn kéo đến khắp nơi trong nước.
\s5
\v 32 Ngài sai mưa với mưa đá cùng sấm sét giáng xuống.
\s5
\v 33 Ngài hủy diệt cây nho, cây vả của chúng; Ngài bẻ gãy cây cối trong xứ chúng.
\s5
\v 34 Ngài phán, thì châu chấu kéo đến, rất nhiều châu chấu.
\s5
\v 35 Châu chấu ăn hết mọi cây xanh trong xứ. Chúng ăn sạch mọi hoa mầu của đất.
\s5
\v 36 Chúa giết hết các con trưởng trong xứ, tức trái đầu mùa của cả sức lực chúng.
\s5
\v 37 Chúa cứu dân Y-sơ-ra-ên ra cùng với bạc và vàng; chẳng có chi tộc nào của Chúa bị sẩy chân trên đường.
\s5
\v 38 Ai Cập vui sướng khi họ ra đi, vì dân Ai Cập sợ hãi họ.
\s5
\v 39 Chúa giăng một đám mây để che họ và làm một đám lửa để thắp sáng ban đêm.
\s5
\v 40 Dân Y-sơ-ra-ên đòi thức ăn thì Ngài đưa chim cút đến và cho họ được no nê bánh từ trời.
\s5
\v 41 Chúa tách vầng đá thì nước ở trong tuôn ra; nước chảy trong hoang mạc giống như sông.
\s5
\v 42 Vì Chúa nhớ lại lời hứa thánh mà Ngài ban cho tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham.
\s5
\v 43 Chúa dẫn dân Ngài ra cách vui mừng, dắt kẻ lựa chọn của Ngài ra với tiếng tung hô khải hoàn.
\s5
\v 44 Ngài ban cho họ xứ sở của các dân; họ chiếm hữu tài sản của các dân ấy,
\s5
\v 45 để họ gìn giữ các luật lệ và vâng theo luật pháp Ngài. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 106
\p
\v 1 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu, vì Ngài là thiện, lòng thành tín về giao ước Ngài vẫn còn mãi.
\s5
\v 2 Ai có thể thuật hết các công việc quyền năng của Chúa Hằng Hữu hay công bố đầy đủ mọi việc làm đáng ca ngợi của Ngài.
\s5
\v 3 Phước cho kẻ làm điều phải và việc họ làm luôn công bình.
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ôi, xin nhớ đến con khi Chúa làm ơn cho dân Ngài; xin giúp con khi Chúa giải cứu dân Chúa.
\s5
\v 5 Rồi con sẽ được thấy sự hưng thịnh của kẻ được Chúa chọn, được hoan hỉ về niềm vui sướng của dân Ngài, và hãnh diện cùng với cơ nghiệp Ngài.
\s5
\v 6 Chúng con đã phạm tội chẳng khác gì tổ phụ mình; chúng con đã làm sai, chúng con đã làm ác.
\s5
\v 7 Cha ông chúng con không hiểu hết các việc kỳ diệu của Chúa tại Ai Cập; họ đã phớt lờ các việc làm thành tín vốn rất nhiều của Chúa; họ nổi loạn tại biển, tức biển Lau Sậy.
\s5
\v 8 Nhưng Chúa đã cứu họ vì cớ danh Chúa, để Chúa có thể bày tỏ ra quyền năng Ngài.
\s5
\v 9 Ngài quở biển Lau Sậy, thì nó cạn khô. Rồi Ngài dẫn họ vượt qua các vực sâu, như qua vùng hoang mạc.
\s5
\v 10 Chúa cứu họ khỏi tay của những kẻ ghét họ, và giải cứu họ khỏi quyền lực của kẻ thù.
\s5
\v 11 Nhưng nước lại phủ lấp quân thù họ, chẳng còn lấy một kẻ sống sót.
\s5
\v 12 Lúc đó họ tin lời Ngài, và họ hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 13 Nhưng họ liền quên đi việc Ngài đã làm; họ chẳng chờ đợi các huấn thị của Ngài.
\s5
\v 14 Họ sinh lòng tham muốn vô độ nơi hoang dã và thách thức Thiên Chúa trong sa mạc.
\s5
\v 15 Chúa đáp ứng điều họ cầu xin, nhưng cũng sai một căn bệnh hành hại thân thể họ.
\s5
\v 16 Trong trại họ ganh tị với Môi-se và A-rôn, thầy tế lễ thánh của Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 17 Đất há ra nuốt chửng Đa-than, chôn vùi đồng bọn của A-bi-ram.
\s5
\v 18 Lửa bùng lên giữa vòng họ; Ngọn lửa thiêu đốt những kẻ gian ác.
\s5
\v 19 Họ làm ra một con bê tại Hô-rếp và thờ lạy tượng đúc bằng kim khí.
\s5
\v 20 Họ đổi vinh quang của Thiên Chúa để lấy hình tượng của loài bò ăn cỏ.
\s5
\v 21 Họ quên Thiên Chúa là Cứu Chúa mình, Đấng làm những việc vĩ đại tại Ai Cập. Ngài đã làm những việc kỳ diệu trong xứ của Cham, các việc quyền năng tại biển Lau Sậy.
\s5
\v 23 Nếu Môi-se, kẻ Ngài lựa chọn, không đứng ra can thiệp để cơn thạnh nộ Ngài khỏi hủy diệt Y-sơ-ra-ên, thì hẳn Ngài đã ban lệnh tiêu diệt họ.
\s5
\v 24 Rồi họ xem thường vùng đất mầu mỡ; họ không tin lời hứa của Chúa,
\s5
\v 25 mà lằm bằm trong trại mình và không chịu vâng lời Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 26 Vậy là Chúa đưa tay Ngài lên thề với họ rằng Ngài sẽ để cho họ chết trong hoang mạc,
\s5
\v 27 rải con cháu họ ra giữa các dân, khiến họ tản lạc nơi xứ lạ.
\s5
\v 28 Họ thờ lạy Ba-anh Phê-ô và ăn đồ cúng tế người chết.
\s5
\v 29 Bằng hành động của mình, họ chọc giận Ngài, thế là dịch bệnh bùng phát giữa vòng họ.
\s5
\v 30 Rồi Phi-nê-a đứng lên can thiệp và bệnh dịch lui đi.
\s5
\v 31 Việc đó được kể là công chính cho người trải suốt mọi thế hệ cho đến đời đời.
\s5
\v 32 Họ cũng chọc giận Chúa Hằng Hữu tại nguồn nước Mê-ri-ba, và Môi-se đã bị vạ lây vì cớ họ.
\s5
\v 33 Họ khiến Môi-se thấy cay đắng và ông đã phát ngôn thiếu suy xét.
\s5
\v 34 Họ không tiêu diệt các dân như Chúa Hằng Hữu đã truyền bảo,
\s5
\v 35 nhưng lại pha trộn với các dân đó mà học theo các đường lối chúng,
\s5
\v 36 và thờ lạy các thần tượng của chúng, vốn trở thành cái bẫy cho họ.
\s5
\v 37 Họ hiến tế con trai, con gái mình cho ma quỷ.
\s5
\v 38 Họ làm đổ máu vô tội, tức máu của con trai, con gái họ mà họ đã hiến tế cho các tượng thần Ca-na-an, khiến đất ra ô uế vì máu đó.
\s5
\v 39 Họ trở nên nhuốc nhơ vì việc mình làm; họ giống như phường mại dâm trong việc mình làm.
\s5
\v 40 Vậy nên Chúa Hằng Hữu nổi thạnh nộ với dân Ngài, và Ngài coi khinh chính dân mình.
\s5
\v 41 Ngài phó họ cho các dân, và những kẻ thù ghét họ cai trị họ.
\s5
\v 42 Kẻ thù đã áp bức họ, và họ buộc phải suy phục thẩm quyền của chúng.
\s5
\v 43 Nhiều lần Chúa hiện ra cứu giúp họ, nhưng họ cứ mãi bội nghịch và bị hạ thấp bởi tội của chính mình.
\s5
\v 44 Tuy vậy, khi nghe họ kêu cứu thì Chúa lưu tâm đến tình trạng khốn khổ của họ.
\s5
\v 45 Chúa nhớ lại giao ước của Ngài với họ và nguôi giận vì lòng thành tín về giao ước của Ngài.
\s5
\v 46 Ngài khiến những kẻ chinh phục họ cảm thương họ.
\s5
\v 47 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của chúng con, xin hãy cứu chúng con. Xin Chúa tập hợp chúng con lại từ giữa các dân để chúng con được cảm tạ danh thánh Ngài và hãnh diện mà ca ngợi Ngài.
\s5
\v 48 Nguyện Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên, được ca ngợi từ trước vô cùng cho đến muôn đời. Mọi người đồng thanh: “A-men.” Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Quyển Năm
\s5
\c 107
\p
\v 1 Hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu, vì Ngài là thiện, lòng thành tín về giao ước Ngài còn lại đời đời.
\s5
\v 2 Nguyện dân được chuộc của Chúa Hằng Hữu, tức những kẻ Ngài đã giải cứu khỏi quyền lực của quân thù, hãy lên tiếng.
\s5
\v 3 Chúa đã tập trung họ lại từ các xứ lạ, từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam.
\s5
\v 4 Họ đã lang thang nơi đồng hoang trên một con đường trong sa mạc mà chẳng kiếm được thành nào để vào sống.
\s5
\v 5 Vì đói khát, nên họ ngất xỉu do kiệt sức.
\s5
\v 6 Rồi trong lúc gian nan, họ kêu cầu Chúa Hằng Hữu, và Ngài giải cứu họ khỏi cảnh hoạn nạn.
\s5
\v 7 Ngài dẫn họ đi trên con đường thẳng tiến đến thành mình sẽ sinh sống.
\s5
\v 8 Ôi, ước gì người ta sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu về lòng thành tín Ngài cũng như về những việc đáng kinh ngạc mà Ngài đã làm cho loài người.
\s5
\v 9 Vì Ngài thỏa mãn ước ao của kẻ khát, còn ước muốn của người đói thì Ngài đáp ứng bằng những vật tốt lành.
\s5
\v 10 Một số người ở trong tình trạng tối tăm, ảm đạm, bị giam cầm trong hoạn nạn, xiềng xích.
\s5
\v 11 Đó là vì họ đã phản loạn chống lại lời Thiên Chúa và chối từ sự chỉ dạy của Đấng Chí Cao.
\s5
\v 12 Chúa dùng sự khổ cực hạ lòng họ xuống; họ vấp ngã mà chẳng có ai đỡ dậy.
\s5
\v 13 Rồi trong cơn gian truân họ kêu cầu Chúa Hằng Hữu; và Ngài cứu họ khỏi hoạn nạn. Chúa đưa họ ra khỏi cảnh tăm tối, ảm đạm, và bẻ gãy gông cùm của họ.
\s5
\v 15 Ôi, ước gì người ta ca ngợi Chúa Hằng Hữu về lòng thành tín Ngài và về các việc đáng kinh ngạc Ngài đã làm cho loài người!
\s5
\v 16 Vì Ngài đã đập vỡ cổng đồng và xuyên phá song sắt.
\s5
\v 17 Họ ngu dại trong các đường lối phản loạn và phải khổ sở vì tội lỗi mình.
\s5
\v 18 Họ chẳng còn thiết ăn uống và gần kề cổng sự chết.
\s5
\v 19 Rồi họ kêu cầu Chúa Hằng Hữu trong cơn khốn khó, và Ngài cứu họ ra khỏi hoạn nạn.
\s5
\v 20 Ngài ban lời Ngài và chữa lành cho họ, rồi Ngài cứu họ khỏi cảnh hủy diệt.
\s5
\v 21 Ôi, ước gì người ta ca ngợi Chúa Hằng Hữu về lòng thành tín Ngài và về các việc đáng kinh ngạc Ngài đã làm cho loài người!
\s5
\v 22 Nguyện họ dâng sinh tế tạ ơn và ca hát mà rao ra các công việc Chúa.
\s5
\v 23 Một số người đi tàu biển ra hải ngoại kinh doanh.
\s5
\v 24 Những người này đã chứng kiến công việc của Chúa Hằng Hữu cùng các phép lạ của Ngài ngoài biển khơi.
\s5
\v 25 Vì Ngài ra lệnh thì gió bão nổi lên khuấy động biển cả.
\s5
\v 26 Họ được nhấc lên trời cao, rồi lại bị nhận xuống vực thẳm. Sự sống họ tiêu biến trong cảnh khốn cùng.
\s5
\v 27 Họ lắc lư, loạng choạng như kẻ say rượu và bế tắc.
\s5
\v 28 Lúc đó họ kêu cầu Chúa Hằng Hữu trong cơn khốn khó, và Ngài cứu họ ra khỏi hoạn nạn.
\s5
\v 29 Ngài khiến cho bão yên, sóng lặng.
\s5
\v 30 Họ vui sướng vì biển lặng, và Ngài đưa họ đến bến bờ họ muốn đến.
\s5
\v 31 Ôi, ước gì người ta ca ngợi Chúa Hằng Hữu về lòng thành tín Ngài và về các việc đáng kinh ngạc Ngài đã làm cho loài người!
\s5
\v 32 Nguyện họ tôn cao Ngài giữa hội dân, ca ngợi Ngài giữa hội đồng trưởng lão.
\s5
\v 33 Ngài biến sông rạch ra hoang mạc, biến suối nước thành đất khô,
\s5
\v 34 biến một xứ mầu mỡ thành nơi cằn cỗi vì sự gian ác của cư dân nó.
\s5
\v 35 Ngài biến hoang địa ra ao hồ, biến đất khô thành suối nước.
\s5
\v 36 Ngài cho kẻ đói khát định cư tại đó và họ xây thành mà cư trú trong đó.
\s5
\v 37 Họ xây thành để làm ruộng, trồng vườn nho, và bội thu hoa mầu.
\s5
\v 38 Ngài ban phước cho họ, khiến họ nên đông đúc. Ngài không để cho đàn gia súc họ giảm sút.
\s5
\v 39 Họ bị xem thường và suy sụp vì hoạn nạn, đau khổ.
\s5
\v 40 Ngài trút đổ sự khinh khi lên giới lãnh đạo và khiến họ lang thang trong hoang mạc, nơi chẳng có đường đi.
\s5
\v 41 Nhưng Ngài bảo vệ kẻ thiếu thốn khỏi cảnh khốn khó và chăm sóc gia đình họ như đàn chiên.
\s5
\v 42 Người ngay thẳng sẽ thấy điều này và vui mừng, còn toàn bộ cái ác phải câm miệng lại.
\s5
\v 43 Ai khôn ngoan thì phải lưu ý những chuyện này và suy ngẫm về các việc làm thành tín của Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 108
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, lòng con kiên định; con sẽ hát, đúng vậy, con sẽ hát ca ngợi Chúa bằng tấm lòng vinh hạnh của mình.
\s5
\v 2 Đàn luýt cùng đàn hạc, hãy dậy đi; tôi sẽ đánh thức hừng đông.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, con sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân; con sẽ hát ca ngợi Ngài giữa các nước.
\s5
\v 4 Vì lòng thành tín về giao ước Chúa vĩ đại hơn các tầng trời; lòng chân thật của Chúa vươn đến các tầng mây.
\s5
\v 5 Lạy Thiên Chúa, nguyện Chúa được tôn cao hơn các tầng trời, và nguyện vinh quang Chúa được tôn cao trên khắp trái đất.
\s5
\v 6 Xin dùng tay phải Ngài mà giải cứu chúng con và đáp lời con, để những kẻ yêu Chúa được giải thoát.
\s5
\v 7 Thiên Chúa đã phán trong sự thánh khiết Ngài, rằng: “Ta sẽ vui mừng; Ta sẽ phân Si-chem ra và chia phần thung lũng Su-cốt.
\s5
\v 8 Ga-la-át là của Ta, và Ma-na-se cũng là của Ta; Ép-ra-im là nón bảo vệ đầu Ta; Giu-đa là vương trượng Ta.
\s5
\v 9 Mô-áp là chậu rửa của Ta; Ê-đôm là chỗ Ta ném giày. Ta sẽ reo mừng chiến thắng vì cớ Phi-li-tin.
\s5
\v 10 Ai sẽ đưa Ta vào một thành vững chắc? Ai sẽ dẫn Ta đến Ê-đôm?”
\s5
\v 11 Thiên Chúa ôi, Ngài không khước từ chúng con phải không? Chúa chẳng xung trận cùng với quân đội chúng con.
\s5
\v 12 Xin giúp chúng con chống lại quân thù, vì sự trợ giúp của con người là vô ích.
\s5
\v 13 Nhờ Chúa giúp đỡ, chúng con sẽ chiến thắng; Chúa sẽ giày đạp kẻ thù của chúng con.
\s5
\c 109
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa, Đấng con ca ngợi, xin Chúa đừng lặng thinh.
\s5
\v 2 Vì kẻ gian ác và kẻ lừa lọc công kích con; chúng nói những lời dối trá về con.
\s5
\v 3 Chúng vây quanh con, nói những điều đáng ghét, và chúng tấn công con vô cớ.
\s5
\v 4 Đáp lại lòng yêu thương của con, chúng vu cáo con, nhưng con cầu nguyện cho chúng.
\s5
\v 5 Chúng lấy điều ác báo lại điều lành con đã làm, và chúng thù ghét lòng yêu thương của con.
\s5
\v 6 Xin Chúa chỉ định tay gian ác trừng trị một kẻ thù như vậy; xin Chúa đặt để một người cáo tội đứng bên tay phải nó.
\s5
\v 7 Khi nó bị xử đoán, nguyện nó bị xét là có tội; nguyện lời cầu nguyện nó bị kể là sai trái.
\s5
\v 8 Nguyện các ngày của nó ít đi; nguyện cho một người khác thế chỗ của nó.
\s5
\v 9 Nguyện con cái nó mồ côi cha, vợ nó trở thành góa phụ.
\s5
\v 10 Nguyện con cái nó phải lang bạt xin ăn khi chúng rời bỏ nơi ở đổ nát của mình.
\s5
\v 11 Nguyện chủ nợ xiết hết mọi vật nó sở hữu; kẻ xa lạ chiếm đoạt những gì nó kiếm được.
\s5
\v 12 Nguyện đừng có ai tỏ lòng tử tế với nó; chẳng người nào thương xót con cái mồ côi của nó.
\s5
\v 13 Nguyện các con nó bị diệt mất; tên tuổi chúng nó sẽ bị xóa sạch trong đời kế tiếp.
\s5
\v 14 Nguyện tội của cha ông nó bị nhắc đến trước mặt Chúa Hằng Hữu; tội của mẹ nó không được quên đi.
\s5
\v 15 Nguyện tội lỗi chúng luôn ở trước mặt Chúa Hằng Hữu; nguyện Chúa Hằng Hữu xóa sạch khỏi đất ký ức về chúng.
\s5
\v 16 Nguyện Chúa Hằng Hữu làm vậy vì con người đó không quan tâm bày tỏ sự trung tín, nhưng lại hạch sách cho đến chết kẻ chịu áp bức, người thiếu thốn, và kẻ ngã lòng.
\s5
\v 17 Nó thích nguyền rủa; nguyện lời rủa nó đổ lại trên nó. Nó ghét chúc lành; nguyện đừng có phước lành nào đến với nó.
\s5
\v 18 Nó mặc cho mình sự nguyền rủa như mặc áo, và lời nguyền rủa nó thấu vào nội tâm nó như nước, như dầu thấm vào xương nó.
\s5
\v 19 Nguyện các lời nguyền của nó đối với nó giống như áo quần nó mặc để che thân, như dây nịt nó luôn đeo trên người.
\s5
\v 20 Nguyện đó là sự báo trả mà Chúa Hằng Hữu dành cho những kẻ buộc tội con, những kẻ nói hành con.
\s5
\v 21 Lạy Chúa Hằng Hữu là Chúa của con, xin đối đãi nhân từ với con vì cớ danh Ngài. Xin cứu con vì sự thành tín về giao ước của Ngài thật tốt lành.
\s5
\v 22 Vì con bị áp bức và thiếu thốn, lòng con bị thương tổn trong con.
\s5
\v 23 Con phai nhòa giống như bóng chiều tà; con bị giũ đi như con châu chấu.
\s5
\v 24 Đầu gối con yếu đi vì nhịn ăn; con chỉ còn da bọc xương.
\s5
\v 25 Con bị những kẻ vu cáo mình khinh thường; chúng lắc đầu khi nhìn thấy con.
\s5
\v 26 Lạy Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa con, xin Chúa giúp con; xin cứu con bởi lòng thành tín về giao ước của Chúa.
\s5
\v 27 Nguyện chúng biết rằng đây là việc Chúa làm, rằng chính Ngài, Chúa Hằng Hữu, đã làm việc này.
\s5
\v 28 Dầu chúng nguyền rủa con, nhưng xin Chúa ban phước cho con; khi chúng công kích con, nguyện chúng bị hổ thẹn, và nguyện tôi tớ Chúa vui mừng.
\s5
\v 29 Nguyện các cừu địch con phải mang lấy nhuốc nhơ; nguyện chúng phải mặc lấy sự hổ thẹn như mặc áo.
\s5
\v 30 Bằng môi miệng mình, con hết lòng cảm tạ Chúa Hằng Hữu; con sẽ ca ngợi Ngài giữa đám đông.
\s5
\v 31 Vì Chúa sẽ đứng bên tay phải của người thiếu thốn, để cứu người khỏi những kẻ đoán xét người.
\s5
\c 11
\p
\v 1 Tôi ẩn náu trong Chúa Hằng Hữu; sao các người lại bảo tôi: “Hãy trốn lên núi giống như chim đi”?
\s5
\v 2 Vì, kìa, kẻ ác giương cung. Chúng đã lắp tên vào dây để rồi trong bóng tối bắn vào người có lòng ngay thẳng.
\s5
\v 3 Vì nếu các nền bị đổ nát, thì người công chính còn làm gì được?
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ở trong đền thánh Ngài; mắt Ngài theo dõi, mắt Ngài dò xét con cái loài người.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu dò xét cả người công chính lẫn kẻ ác, nhưng Ngài ghét những kẻ ưa thích bạo lực.
\s5
\v 6 Ngài trút than hồng và diêm sinh xuống trên kẻ ác; gió bỏng sẽ là phần dành cho họ trong chén Ngài!
\s5
\v 7 Vì Chúa Hằng Hữu là công bình, và Ngài ưa thích sự công chính; người ngay thẳng sẽ được thấy mặt Ngài.
\s5
\c 110
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu nói với Chủ tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta cho đến khi Ta biến các kẻ thù thành bệ để chân của con.”
\s5
\v 2 Giê-hô-va sẽ từ Si-ôn đưa cây trượng sức mạnh của ngươi ra; hãy cai trị giữa vòng các kẻ thù mình.
\s5
\v 3 Trong ngày năng lực ngươi, dân ngươi sẽ mặc trang phục thánh mà tình nguyện theo ngươi; từ lúc hừng đông tuổi xuân của ngươi đối với ngươi sẽ như sương móc.
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu đã thề và sẽ không thay đổi, rằng: “Ngươi là thầy tế lễ đời đời, theo phong cách Mên-chi-xê-đéc.”
\s5
\v 5 Chúa ở bên tay phải ngươi. Ngài sẽ giết chết các vua trong ngày thịnh nộ mình.
\s5
\v 6 Ngài sẽ xét xử các dân; Ngài sẽ khiến các chiến trường la liệt xác chết. Ngài sẽ giết giới lãnh đạo của nhiều nước.
\s5
\v 7 Ngài sẽ uống nước khe bên đường, rồi Ngài sẽ ngẩng cao đầu sau khi chiến thắng.
\s5
\c 111
\p
\v 1 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa Hằng Hữu giữa hội của người chính trực, khi họ nhóm lại.
\s5
\v 2 Các việc của Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại, mọi kẻ mong ước những việc ấy đều nô nức chờ đợi.
\s5
\v 3 Các việc Ngài làm thật uy nghi, vinh hiển, đức công chính Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 4 Ngài làm những việc kỳ diệu được người ta nhớ đến; Chúa Hằng Hữu thật bao dung, nhân từ.
\s5
\v 5 Ngài ban vật thực cho người trung tín theo Ngài. Ngài luôn nhớ đến giao ước Ngài.
\s5
\v 6 Ngài tỏ các việc quyền năng cho dân Ngài khi ban cho họ sản nghiệp của các dân.
\s5
\v 7 Các công việc của tay Ngài đều đáng tin cậy và công bình; mọi hướng dẫn Ngài đều chắc chắn.
\s5
\v 8 Chúng được vững lập đời đời, cần được vâng giữ cách trọn thành, thỏa đáng.
\s5
\v 9 Ngài ban chiến thắng cho dân Ngài; Ngài định đặt giao ước Ngài đến đời đời; thánh thay, đáng sợ thay danh Ngài.
\s5
\v 10 Tôn kính Chúa Hằng Hữu là khởi đầu sự khôn ngoan; người nào thi hành các hướng dẫn Ngài được sự thông hiểu. Sự ca ngợi Ngài còn mãi đời đời.
\s5
\c 112
\p
\v 1 Ngợi khen Chúa Hằng Hữu. Phước cho người nào vâng lời Chúa Hằng Hữu, vui thích về các điều răn Ngài.
\s5
\v 2 Con cháu người sẽ được cường thịnh trên đất; dòng dõi của người kính sợ Thiên Chúa sẽ được phước.
\s5
\v 3 Của cải và sự giàu có ở trong nhà người; sự công chính người còn đến đời đời.
\s5
\v 4 Ánh sáng chiếu rọi trong bóng tối cho người kính sợ Thiên Chúa; người độ lượng, nhân từ, và công bình.
\s5
\v 5 Hoàn cảnh sẽ thuận lợi cho người nào xử sự cách bao dung và sẵn sàng cho vay mượn, cũng như giải quyết công việc mình cách thành thật.
\s5
\v 6 Vì người sẽ chẳng bao giờ bị lay động; người công bình sẽ được nhớ đến mãi mãi.
\s5
\v 7 Người không sợ tin dữ; người vững lòng tin cậy Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 8 Lòng người được thanh thản mà không lo sợ cho đến khi người nhìn xuống kẻ thù của mình cách đắc thắng.
\s5
\v 9 Người cứu giúp kẻ nghèo thật rộng rãi; sự công chính của người còn lại đời đời; người sẽ được tôn cao cách vinh dự.
\s5
\v 10 Kẻ ác sẽ thấy như vậy và nổi giận; nó sẽ nghiến răng và tan biến đi; tham vọng của kẻ ác sẽ tiêu mất.
\s5
\c 113
\p
\v 1 Ngợi khen Chúa Hằng Hữu. Hỡi các tôi tớ của Chúa Hằng Hữu, hãy ca ngợi Ngài; hãy ca ngợi danh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Danh Chúa Hằng Hữu đáng chúc tụng, từ nay cho đến đời đời.
\s5
\v 3 Hãy ca ngợi danh Chúa Hằng Hữu, từ lúc bình mình cho đến buổi hoàng hôn.
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu được tôn cao hơn mọi dân mọi nước, vinh quang Ngài vượt hơn cả bầu trời.
\s5
\v 5 Có ai giống như Thiên Chúa Hằng Hữu của chúng ta, Đấng ngự ở trên cao,
\s5
\v 6 nhìn xuống cả trời lẫn đất?
\s5
\v 7 Ngài đỡ người nghèo khó lên khỏi cát bụi, nhấc kẻ thiếu thốn khỏi đống tro,
\s5
\v 8 và cho người ngồi chung với hàng quyền quý, hàng quyền quý trong dân Ngài.
\s5
\v 9 Ngài ban cho người phụ nữ hiếm muộn trong nhà vị thế giống như người mẹ có con. Ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 114
\p
\v 1 Khi Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, khi nhà Gia-cốp rời khỏi dân ngoại quốc đó,
\s5
\v 2 thì Giu-đa trở nên nơi thánh của Chúa, Y-sơ-ra-ên thành ra vương quốc Ngài.
\s5
\v 3 Biển nhìn và trốn chạy; sông Giô-đanh quay đầu.
\s5
\v 4 Núi nhảy lên như chiên đực, đồi nhảy nhót như chiên con.
\s5
\v 5 Này biển, vì sao ngươi chạy trốn?
\s5
\v 6 Này, các núi, vì sao các ngươi lại nhảy như chiên đực? Hỡi các ngọn đồi, vì sao các ngươi lại nhảy nhót như chiên con?
\s5
\v 7 Hỡi trái đất, hãy run rẩy trước mặt Chúa, trước sự hiện diện của Thiên Chúa của Gia-cốp.
\s5
\v 8 Ngài khiến vầng đá biến thành hồ nước, biến đá cứng thành ra suối nước.
\s5
\c 115
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, vì đức thành tín về giao ước Chúa và vì sự chân thật của Ngài, sự tôn trọng không thuộc chúng con, không phải của chúng con, mà thuộc về danh Chúa.
\s5
\v 2 Vì sao các dân thắc mắc: “Thiên Chúa chúng nó đâu rồi?”
\s5
\v 3 Thiên Chúa chúng tôi ở trên trời; Ngài làm điều gì vừa ý Ngài.
\s5
\v 4 Tượng thần của các dân chỉ là bạc và vàng, là sản phẩm của bàn tay con người.
\s5
\v 5 Chúng có miệng mà không nói được; chúng có mắt mà chẳng thấy gì;
\s5
\v 6 chúng có tai mà chẳng nghe được; chúng có mũi nhưng chẳng ngửi được;
\s5
\v 7 Chúng có tay mà không rờ rẫm; chúng có chân mà chẳng bước đi; chẳng có lời từ miệng chúng nó nói ra.
\s5
\v 8 Những kẻ làm ra chúng cũng giống như chúng, mà những kẻ tin cậy chúng cũng vậy.
\s5
\v 9 Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy tin cậy Chúa Hằng Hữu; Ngài là sự cứu giúp và thuẫn che của ngươi.
\s5
\v 10 Hỡi nhà A-rôn, hãy tin cậy Chúa Hằng Hữu, Ngài là sự cứu giúp và thuẫn che của ngươi.
\s5
\v 11 Hỡi những người tôn kính Chúa Hằng Hữu, hãy tin cậy Ngài; Ngài là sự cứu giúp và thuẫn che của các ngươi.
\s5
\v 12 Chúa Hằng Hữu lưu tâm đến chúng tôi và sẽ ban phước cho chúng tôi; Ngài sẽ ban phước cho gia đình Y-sơ-ra-ên; Ngài sẽ ban phước cho gia đình A-rôn.
\s5
\v 13 Ngài sẽ ban phước cho người tôn kính Ngài, cả trẻ tuổi lẫn cao niên.
\s5
\v 14 Nguyện Chúa Hằng Hữu khiến cho số các ngươi và con cháu các ngươi cứ ngày càng tăng thêm.
\s5
\v 15 Nguyện các ngươi được phước của Chúa Hằng Hữu, Đấng làm nên trời và đất.
\s5
\v 16 Các tầng trời thuộc về Chúa Hằng Hữu; nhưng trái đất Ngài thì Ngài ban cho con người.
\s5
\v 17 Người chết không ca ngợi Chúa Hằng Hữu, kẻ đi vào cõi im lặng cũng vậy.
\s5
\v 18 Nhưng chúng ta sẽ chúc tụng Chúa Hằng Hữu từ nay cho đến đời đời. Ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 116
\p
\v 1 Tôi yêu mến Chúa Hằng Hữu vì Ngài nghe tiếng tôi và lời cầu xin ơn thương xót của tôi.
\s5
\v 2 Bao lâu còn sống thì tôi sẽ vẫn kêu cầu Chúa vì Ngài lắng tai nghe tôi.
\s5
\v 3 Các dây sự chết ràng buộc tôi, bẫy âm phủ đe dọa tôi; tôi thấy đau đớn, buồn rầu.
\s5
\v 4 Rồi tôi kêu cầu danh Chúa Hằng Hữu, rằng: “Chúa Hằng Hữu ôi, xin giải cứu mạng sống con.”
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu nhân từ và công bình; Thiên Chúa chúng ta hay thương xót.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu bảo vệ người thật thà; tôi bị suy sụp, và Ngài cứu tôi.
\s5
\v 7 Linh hồn tôi có thể trở về nơi yên nghỉ của nó vì Chúa Hằng Hữu đã hậu đãi tôi.
\s5
\v 8 Vì Chúa giải cứu mạng sống tôi khỏi chết, mắt tôi khỏi đẫm lệ, và chân tôi khỏi vấp ngã.
\s5
\v 9 Tôi sẽ phục vụ Chúa Hằng Hữu trong đất kẻ sống.
\s5
\v 10 Tôi tin Ngài, thậm chí khi tôi nghĩ: “Mình bị hoạn nạn nặng nề quá.”
\s5
\v 11 Trong lúc bối rối, tôi đã nói: “Mọi người đều nói dối."
\s5
\v 12 Làm sao tôi có thể báo đáp Chúa Hằng Hữu về mọi điều nhân từ Ngài dành cho tôi?
\s5
\v 13 Tôi sẽ giơ chén cứu rỗi lên và kêu cầu danh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 14 Tôi sẽ hoàn thành các lời hứa nguyện với Chúa Hằng Hữu trước mặt toàn thể dân Ngài.
\s5
\v 15 Sự chết của các thánh đồ Ngài là quý báu trước mặt Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu ôi, thật con đây là tôi tớ Ngài; con là tôi tớ Chúa, là con trai của đầy tớ gái Ngài; Chúa đã cất đi xiềng xích của con.
\s5
\v 17 Con sẽ dâng lên Chúa của lễ tạ ơn và kêu cầu danh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 18 Tôi sẽ hoàn thành các lời hứa nguyện với Chúa Hằng Hữu trước mặt toàn thể dân Ngài,
\s5
\v 19 trong sân đền của nhà Chúa Hằng Hữu, ở chính giữa ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem. Ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 117
\p
\v 1 Hỡi tất cả các nước, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu; hỡi mọi dân tộc, hãy tôn cao Ngài.
\s5
\v 2 Vì lòng thành tín về giao ước Ngài thật lớn đối với chúng ta, và sự chân thật của Chúa Hằng Hữu còn đến đời đời. Ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 118
\p
\v 1 Hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu, vì Ngài là thiện lành, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 2 Nguyện Y-sơ-ra-ên nói: “Lòng thành tín về giao ước Chúa còn đến đời đời.”
\s5
\v 3 Nguyện nhà A-rôn nói: “Lòng thành tín về giao ước Chúa còn đến đời đời.”
\s5
\v 4 Nguyện những kẻ trung tín với Chúa Hằng Hữu nói: “Lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.”
\s5
\v 5 Trong lúc hoạn nạn, tôi kêu cầu Chúa Hằng Hữu; Chúa Hằng Hữu đáp lời tôi và cho tôi được tự do.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu ở cùng tôi; tôi sẽ không sợ hãi; người ta có thể làm gì được tôi?
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ở cạnh cứu giúp tôi; tôi sẽ nhìn những kẻ thù ghét mình một cách đắc thắng.
\s5
\v 8 Thà nương náu mình nơi Chúa Hằng Hữu hơn là đặt lòng tin nơi con người.
\s5
\v 9 Thà nương náu mình nơi Chúa Hằng Hữu hơn là nhờ cậy người phàm.
\s5
\v 10 Tất cả các nước đã vây bọc tôi; nhân danh Chúa Hằng Hữu tôi đã tiêu diệt chúng.
\s5
\v 11 Chúng vây bọc tôi; thật, chúng đã bao vây tôi; nhân danh Chúa Hằng Hữu tôi đã tiêu diệt chúng.
\s5
\v 12 Chúng vây lấy tôi như lũ ong; chúng nhanh chóng tiêu biến như lửa trong bụi gai; nhân danh Chúa Hằng Hữu tôi đã tiêu diệt chúng.
\s5
\v 13 Chúng tấn công tôi để hạ gục tôi, nhưng Chúa Hằng Hữu đã giúp đỡ tôi.
\s5
\v 14 Chúa Hằng Hữu là sức mạnh và niềm vui của tôi; Ngài là Đấng giải cứu tôi.
\s5
\v 15 Người ta có nghe tiếng reo vui chiến thắng trong trại của người công chính; tay phải của Chúa Hằng Hữu chinh phục.
\s5
\v 16 Tay phải của Chúa Hằng Hữu đưa cao lên; tay phải của Chúa Hằng Hữu chinh phục.
\s5
\v 17 Tôi sẽ không chết đâu, mà sẽ sống để rao ra công việc của Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 18 Chúa Hằng Hữu đã sửa phạt tôi cách nghiêm khắc; nhưng Ngài không giao tôi cho sự chết.
\s5
\v 19 Hãy mở các cửa công chính cho tôi; tôi sẽ vào và sẽ cảm tạ Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 20 Đây là cửa của Chúa Hằng Hữu; người công chính sẽ bởi đó mà vào.
\s5
\v 21 Con sẽ cảm tạ Chúa, vì Ngài đã đáp lời con, và là sự cứu rỗi của con.
\s5
\v 22 Tảng đá bị các thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc.
\s5
\v 23 Đây là việc Chúa Hằng Hữu làm, là việc diệu kỳ trước mắt chúng ta.
\s5
\v 24 Đây là ngày mà Chúa Hằng Hữu đã hành động; chúng ta sẽ hân hoan, vui sướng trong ngày này.
\s5
\v 25 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy cho chúng con được thắng! Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy cho chúng con được thành công!
\s5
\v 26 Phước cho người nhân danh Chúa Hằng Hữu mà đến; từ nhà của Chúa Hằng Hữu chúng tôi sẽ chúc phước cho người.
\s5
\v 27 Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa, Ngài ban ánh sáng cho chúng tôi; hãy lấy dây buộc sinh tế vào các sừng của bàn thờ.
\s5
\v 28 Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ cảm tạ Ngài; con sẽ tôn cao Ngài.
\s5
\v 29 Ồ, hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu, vì Ngài là thiện lành; vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\c 119
\p
\v 1 Phước cho người có đường lối trọn vẹn, bước đi trong luật pháp của Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Phước cho người gìn giữ các mạng lệnh hệ trọng của Chúa, hết lòng tìm kiếm Ngài.
\s5
\v 3 Họ không làm điều trái khuấy, nhưng bước đi trong các đường lối Ngài.
\s5
\v 4 Chúa đã truyền cho chúng con giữ các huấn thị của Ngài, để chúng con cẩn thận tuân hành.
\s5
\v 5 Ôi, ước gì con kiên định tuân giữ các luật lệ Chúa!
\s5
\v 6 Thì con sẽ không bị hổ thẹn khi con suy ngẫm về các điều răn Ngài.
\s5
\v 7 Con sẽ lấy lòng thành cảm tạ Chúa khi học biết các sắc lệnh công chính của Ngài.
\s5
\v 8 Con sẽ tuân giữ các luật lệ Chúa; xin đừng bỏ con một mình. BETH (2)
\s5
\v 9 Người trẻ có thể giữ cho đường lối mình thanh sạch bằng cách nào? Bằng cách vâng theo lời Chúa.
\s5
\v 10 Con hết lòng tìm kiếm Chúa; Xin đừng để con lạc khỏi các điều răn Chúa.
\s5
\v 11 Con đã cất giữ lời Chúa trong lòng để con không phạm tội cùng Chúa.
\s5
\v 12 Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài đáng được ca ngợi; xin dạy con các luật lệ Chúa.
\s5
\v 13 Con dùng môi miệng công bố các sắc lệnh công chính mà Chúa đã truyền ra.
\s5
\v 14 Con vui mừng về đường lối các sắc lệnh giao ước của Chúa hơn mọi thứ của cải.
\s5
\v 15 Con sẽ suy ngẫm các hướng dẫn của Chúa và lưu ý đến các đường lối Ngài.
\s5
\v 16 Con vui thích về các luật lệ Chúa; con sẽ không quên lời Chúa. GIMEL (3)
\s5
\v 17 Xin hãy nhân từ với tôi tớ Chúa, để con có thể sống mà giữ lời Chúa.
\s5
\v 18 Xin Chúa mở mắt con, để con thấy được những điều kỳ diệu trong luật pháp Ngài.
\s5
\v 19 Con đây là ngoại kiều trong xứ; xin đừng giấu con các điều răn Chúa.
\s5
\v 20 Những khát khao của con tiêu tan vì lòng mong mỏi được biết các phán quyết công bình của Chúa luôn luôn.
\s5
\v 21 Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo, là kẻ bị rủa sả và lầm lạc khỏi các điều răn Chúa.
\s5
\v 22 Xin giữ con khỏi phải chịu nhuốc nhơ, sỉ nhục, vì con vâng theo các luật lệ giao ước Chúa.
\s5
\v 23 Dầu giới cai trị bày mưu tính kế và vu khống con, nhưng kẻ đầy tớ Chúa vẫn suy ngẫm các luật lệ Chúa.
\s5
\v 24 Các luật lệ giao ước Chúa là niềm vui thích, cũng là những cố vấn của con. DALETH (4)
\s5
\v 25 Sự sống con dính chặt vào tro bụi! Xin ban cho con sự sống bởi lời Chúa.
\s5
\v 26 Con đã cho Chúa biết đường lối con, và Chúa đã trả lời con; xin dạy con các luật lệ Chúa.
\s5
\v 27 Xin giúp con hiểu đường lối trong các huấn thị của Chúa, để con có thể suy ngẫm các lời dạy kỳ diệu của Chúa.
\s5
\v 28 Con chìm ngập trong nỗi sầu khổ! Xin khiến con mạnh mẽ bởi Lời Ngài.
\s5
\v 29 Xin xoay hướng con khỏi con đường gian dối; xin rộng lượng dạy con luật pháp Chúa.
\s5
\v 30 Con đã chọn con đường trung tín; con vẫn luôn giữ các sắc lệnh công chính của Chúa trước mặt mình.
\s5
\v 31 Con gắn bó với các luật lệ giao ước Chúa; Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng để con bị xấu hổ.
\s5
\v 32 Con sẽ chạy trong đường của các điều răn Chúa, vì Chúa mở rộng lòng con để làm vậy. HE (5)
\s5
\v 33 Chúa Hằng Hữu ôi, xin dạy con đường lối của các luật lệ Chúa, rồi con sẽ gìn giữ cho đến cùng.
\s5
\v 34 Xin ban cho con trí hiểu, rồi con sẽ giữ theo luật pháp Chúa; con sẽ hết lòng tuân giữ nó.
\s5
\v 35 Xin hãy chỉ dẫn con theo đường lối của các điều răn Chúa, vì con vui thích được bước đi trong đó.
\s5
\v 36 Xin hãy hướng lòng con về các luật lệ giao ước của Chúa, và tránh xa món lợi bất chính.
\s5
\v 37 Xin xoay mắt con để khỏi nhìn những thứ vô giá trị; xin khiến con sống lại theo các đường lối Chúa.
\s5
\v 38 Xin làm thành cho tôi tớ Chúa lời Ngài đã hứa với những kẻ tôn kính Ngài.
\s5
\v 39 Xin cất đi những lời thóa mạ khiến con kinh sợ, vì các phán quyết công chính của Chúa là tốt lành.
\s5
\v 40 Kìa, con đã khát khao các huấn thị của Chúa; xin giữ cho con được sống bằng phán quyết công chính của Chúa. VAV (6)
\s5
\v 41 Chúa Hằng Hữu ôi, xin ban cho con tình yêu không dời đổi của Ngài tức sự cứu rỗi của Chúa, theo như lời hứa Ngài;
\s5
\v 42 rồi con sẽ đáp lại kẻ chế nhạo con, vì con tin cậy nơi lời Chúa.
\s5
\v 43 Xin đừng cất lời chân lý khỏi miệng con, vì con đã trông đợi các sắc lệnh công chính của Chúa.
\s5
\v 44 Con sẽ luôn tuân theo luật pháp Chúa cho đến đời đời.
\s5
\v 45 Con sẽ bước đi vững chắc, vì con tìm kiếm các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 46 Con sẽ nói về các mạng lệnh hệ trọng của Chúa trước các vua và sẽ không hổ thẹn.
\s5
\v 47 Con vui thích trong các điều răn Chúa mà con rất yêu mến.
\s5
\v 48 Con sẽ đưa tay lên đón nhận các điều răn Chúa mà con yêu mến; con sẽ suy ngẫm các luật lệ Chúa. ZAYIN(7)
\s5
\v 49 Xin Chúa nhớ lại lời Chúa hứa với đầy tớ Ngài, vì Chúa đã ban hy vọng cho con.
\s5
\v 50 Lời hứa của Chúa đã giữ cho con sống, đó chính là điều an ủi con trong cảnh hoạn nạn.
\s5
\v 51 Kẻ kiêu ngạo đã chế nhạo con, nhưng con vẫn không bỏ luật pháp Chúa.
\s5
\v 52 Chúa Hằng Hữu ôi, con đã nhớ đến các sắc lệnh công chính từ thuở xưa của Chúa, và được an ủi.
\s5
\v 53 Con đã phải nổi nóng vì bọn ác nhân khước từ luật pháp Chúa.
\s5
\v 54 Luật lệ Chúa đã là những bài ca của con tại ngôi nhà con tạm trú.
\s5
\v 55 Chúa Hằng Hữu ôi, vào ban đêm con nhớ đến danh Chúa và con gìn giữ luật pháp Chúa.
\s5
\v 56 Con vẫn thực hành điều này vì con đã tuân theo các huấn thị của Chúa. HETH (8)
\s5
\v 57 Chúa Hằng Hữu là phần của con; con đã quyết tuân theo lời Ngài.
\s5
\v 58 Con hết lòng cầu xin ơn Chúa; xin Chúa thương xót con, như lời Ngài đã hứa.
\s5
\v 59 Con đã xem xét các đường lối mình và trở bước theo các sắc lệnh giao ước Chúa.
\s5
\v 60 Con vội vàng gìn giữ các điều răn Chúa, không chậm trễ.
\s5
\v 61 Các dây của kẻ ác đã quấn lấy con; con chẳng quên luật pháp Chúa.
\s5
\v 62 Lúc nửa đêm con thức dậy cảm tạ Chúa về các sắc lệnh công chính của Chúa.
\s5
\v 63 Con kết bạn với mọi người tôn kính Chúa, với mọi kẻ gìn giữ các huấn thị của Ngài.
\s5
\v 64 Chúa Hằng Hữu ôi, trái đất đầy dẫy sự thành tín Chúa; xin dạy con các luật lệ Chúa. TETH (9)
\s5
\v 65 Chúa Hằng Hữu ôi, Chúa đã hậu đãi tôi tớ Chúa bằng lời của Ngài.
\s5
\v 66 Xin dạy con phân biệt phải trái và hiểu biết, vì con tin nơi các điều răn Chúa.
\s5
\v 67 Trước khi gặp hoạn nạn thì con lầm lạc, nhưng giờ thì con tuân giữ lời Chúa.
\s5
\v 68 Chúa là thiện lành, và Ngài là Đấng làm việc thiện lành; xin dạy con các luật lệ Chúa.
\s5
\v 69 Bọn người kiêu căng đã dùng lới dối trá bôi nhọ con, nhưng con hết lòng gìn giữ lời huấn thị của Chúa.
\s5
\v 70 Lòng chúng cứng cỏi, nhưng con vui thích về luật pháp Chúa.
\s5
\v 71 Hoạn nạn con chịu là tốt cho con, để con học biết các luật lệ Chúa.
\s5
\v 72 Các huấn thị từ miệng Chúa đối với con quý hơn cả ngàn miếng vàng và bạc. YOD (10)
\s5
\v 73 Tay Chúa đã tạo ra và nắn đúc con; xin ban cho con trí hiểu để con học biết các điều răn Chúa.
\s5
\v 74 Những kẻ tôn kính Chúa sẽ vui sướng khi thấy con vì con tìm được hy vọng nơi lời Chúa.
\s5
\v 75 Chúa Hằng Hữu ôi, con biết rằng các sắc lệnh của Chúa là công bình, và do lòng thành tín về giao ước mà Chúa hành hại con.
\s5
\v 76 Nguyện lòng thành tín về giao ước Chúa an ủi con, như Chúa đã hứa với tôi tớ Ngài.
\s5
\v 77 Xin Chúa tỏ lòng thương xót con, để con được sống, vì luật pháp Chúa là niềm vui thích của con.
\s5
\v 78 Nguyện kẻ kiêu ngạo phải bị hổ thẹn, vì chúng đã vu khống con; nhưng con sẽ suy ngẫm các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 79 Những kẻ tôn kính Chúa, tức kẻ biết các sắc lệnh giao ước Chúa, nguyện họ quay hướng về con.
\s5
\v 80 Nguyện lòng con được trọn vẹn về các luật lệ Chúa để con khỏi bị hổ thẹn. KAPH (11)
\s5
\v 81 Con ngất đi vì mong chờ Chúa giải cứu mình! Con đặt hy vọng nơi lời Ngài.
\s5
\v 82 Mắt con trông mong thấy được lời hứa của Chúa; khi nào Chúa sẽ an ủi con?
\s5
\v 83 Vì con đã thành ra giống như cái bình đen đủi khói; con không quên các luật lệ Chúa.
\s5
\v 84 Kẻ tôi tớ Chúa còn phải chịu cảnh này bao lâu nữa; khi nào Chúa mới phán xét những kẻ bức hại con?
\s5
\v 85 Bọn kiêu ngạo đã đào hố hại con, bất chấp luật pháp Chúa.
\s5
\v 86 Tất cả các điều răn Chúa đều đáng tin cậy; những kẻ kia bức hại con trái lẽ; xin Chúa cứu giúp con.
\s5
\v 87 Suýt chút nữa là chúng diệt con khỏi đất, nhưng con vẫn không chối bỏ các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 88 Xin Chúa giữ cho con được sống như sự thành tín Chúa đã hứa, để con giữ các sắc lệnh giao ước mà Chúa đã truyền phán. LAMEDH (12)
\s5
\v 89 Chúa Hằng Hữu ôi, lời Chúa còn lại đời đời, lời Chúa được vững lập trên trời.
\s5
\v 90 Đức thành tín của Chúa cứ còn mãi suốt mọi thế hệ; Chúa đã lập trái đất và nó cứ tồn tại.
\s5
\v 91 Muôn vật còn đến ngày nay y như Chúa đã phán trong các sắc lệnh công chính của Ngài, vì tất cả đều phục vụ Chúa.
\s5
\v 92 Nếu con không vui thích về luật pháp Chúa thì con đã tiêu vong trong cơn hoạn nạn.
\s5
\v 93 Con sẽ không bao giờ quên các huấn thị của Chúa, vì bởi đó mà Chúa giữ cho con được sống.
\s5
\v 94 Con thuộc về Chúa; xin Chúa cứu con, vì con tìm kiếm các huấn thị của Ngài.
\s5
\v 95 Kẻ ác chuẩn bị tiêu diệt con, nhưng con sẽ gắng sức hiểu các sắc lệnh của giao ước Chúa.
\s5
\v 96 Con đã thấy được rằng mọi vật đều có giới hạn, nhưng các điều răn Chúa thì mênh mông, vô hạn. MEM (13)
\s5
\v 97 Ôi, con yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Suốt ngày con suy ngẫm luật pháp ấy.
\s5
\v 98 Các điều răn Chúa khiến con khôn ngoan hơn các kẻ thù con, vì các điều răn ấy luôn ở cùng con.
\s5
\v 99 Con hiểu biết hơn mọi kẻ dạy dỗ con, vì con suy ngẫm các sắc lệnh giao ước Chúa.
\s5
\v 100 Con hiểu biết hơn những người cao tuổi hơn mình; được vậy là vì con đã gìn giữ các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 101 Con đã giữ chân mình khỏi mọi lối ác để vâng theo lời Chúa.
\s5
\v 102 Con không xây khỏi các sắc lệnh công chính của Chúa, vì Chúa đã chỉ dạy con.
\s5
\v 103 Lời Chúa ngọt ngào biết bao cho khẩu vị con, thật, ngọt hơn cả mật trong miệng con.
\s5
\v 104 Nhờ các huấn thị của Chúa mà con được sáng suốt; vậy nên con ghét mọi lối sai lạc. NUN (14)
\s5
\v 105 Lời Chúa là ngọn đèn cho chân con, là ánh sáng cho đường lối con.
\s5
\v 106 Con đã thề nguyện, và xác quyết rằng mình sẽ tuân theo các sắc lệnh của Chúa.
\s5
\v 107 Con rất khổ sở; Chúa Hằng Hữu ôi, xin giữ cho con được sống như Chúa đã hứa trong lời Ngài.
\s5
\v 108 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy nhận các của lễ tự nguyện của môi miệng con, và dạy con các sắc lệnh công chính của Chúa.
\s5
\v 109 Mạng sống con luôn gặp nguy hiểm, nhưng con không quên luật pháp Chúa.
\s5
\v 110 Kẻ ác đã đặt bẫy hại con, nhưng con không lìa xa các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 111 Con nhận các sắc lệnh giao ước Chúa làm cơ nghiệp đời đời, vì đó là niềm hoan hỉ của lòng con.
\s5
\v 112 Con chuyên lòng vâng theo các luật lệ Chúa mãi mãi, cho đến tận cùng. SAMEKH (15)
\s5
\v 113 Con ghét những kẻ hai lòng, nhưng con yêu mến luật pháp Chúa.
\s5
\v 114 Chúa là nơi ẩn náu của con, là thuẫn che con; con hi vọng nơi lời Ngài.
\s5
\v 115 Hỡi các người làm ác, hãy tránh xa tôi, để tôi tuân theo các điều răn của Thiên Chúa tôi.
\s5
\v 116 Xin Chúa nuôi dưỡng con bằng lời Ngài để con được sống mà không hổ thẹn về hy vọng của mình.
\s5
\v 117 Xin Chúa nâng đỡ con, thì con sẽ được an toàn; con sẽ suy ngẫm các luật lệ Chúa luôn luôn.
\s5
\v 118 Chúa loại bỏ mọi kẻ rời xa luật lệ Ngài, vì những người như vậy là dối trá và không đáng tin cậy.
\s5
\v 119 Chúa loại bỏ mọi kẻ ác khỏi đất như cáu cặn; vì vậy con yêu mến các mạng lệnh hệ trọng của Chúa.
\s5
\v 120 Thân con run rẩy vì kinh sợ Chúa, và con cũng sợ các sắc lệnh công chính của Chúa. AYIN (16)
\s5
\v 121 Con làm điều công bình và đúng đắn; xin đừng bỏ mặc con cho những kẻ áp chế con.
\s5
\v 122 Xin Chúa bảo đảm lợi ích của tôi tớ Ngài; xin đừng để kẻ kiêu ngạo áp bức con.
\s5
\v 123 Mắt con mòn mỏi khi con trông đợi sự cứu rỗi của Chúa và lời công chính của Ngài.
\s5
\v 124 Xin hãy tỏ cho tôi tớ Chúa sự thành tín Chúa, và dạy con các luật lệ Chúa.
\s5
\v 125 Con đây là tôi tớ Chúa; xin ban cho con trí hiểu để con biết các sắc lệnh giao ước của Chúa.
\s5
\v 126 Đã đến lúc Chúa Hằng Hữu hành động, vì người ta đã vi phạm luật lệ Chúa.
\s5
\v 127 Thật, con yêu mến các điều răn Chúa hơn vàng, hơn cả vàng ròng.
\s5
\v 128 Vì vậy, con cẩn thận làm theo mọi hướng dẫn của Chúa, và con ghét mọi đường giả dối. PE (17)
\s5
\v 129 Các phép tắc của Chúa thật diệu kỳ, nên con vâng giữ chúng.
\s5
\v 130 Việc giải bày lời Chúa đem lại ánh sáng, ban trí hiểu cho người ít học.
\s5
\v 131 Con há miệng khao khát, vì con mong ước các điều răn Chúa.
\s5
\v 132 Xin quay nhìn con, và thương xót con, như Chúa vẫn luôn làm đối với kẻ yêu mến danh Chúa.
\s5
\v 133 Xin dùng lời Chúa chỉ dẫn các bước con; xin chớ để tội nào cai trị con.
\s5
\v 134 Xin cứu con khỏi sự áp bức của loài người để con tuân theo các huấn thị của Chúa.
\s5
\v 135 Nguyện Chúa chiếu sáng mặt Chúa trên tôi tớ Ngài, và dạy con các luật lệ Chúa.
\s5
\v 136 Mắt con tuôn tràn suối lệ vì người ta không tuân theo luật pháp Chúa. TSADHE (18)
\s5
\v 137 Lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài thật công chính, và các sắc lệnh của Ngài đều công bình.
\s5
\v 138 Chúa đã ban các sắc lệnh giao ước Chúa một cách công chính, thành tín.
\s5
\v 139 Con giận điên lên vì các kẻ thù của con quên mất lời Chúa.
\s5
\v 140 Lời Chúa đã được thử luyện kỹ và tôi tớ Chúa yêu mến nó.
\s5
\v 141 Con đây tầm thường và bị khinh rẻ, nhưng con không quên các huấn thị của Ngài.
\s5
\v 142 Sự công bình của Chúa luôn đúng đắn, và luật pháp Chúa đáng tin cậy.
\s5
\v 143 Dầu con gặp hoạn nạn và đau đớn, nhưng con vẫn vui thích về các điều răn Chúa.
\s5
\v 144 Các sắc lệnh giao ước Chúa là công chính đời đời; xin ban cho con trí hiểu để con được sống. QOPH (19)
\s5
\v 145 Con hết lòng kêu van: “Lạy Chúa Hằng Hữu, xin đáp lời con, con sẽ giữ các luật lệ Chúa.
\s5
\v 146 Con kêu cầu Chúa; xin cứu con, rồi con sẽ vâng theo các sắc lệnh giao ước Ngài.”
\s5
\v 147 Con thức dậy trước lúc bình minh và kêu xin Chúa cứu giúp. Con hy vọng nơi lời Ngài.
\s5
\v 148 Mắt con vẫn mở trước giờ đổi các canh đêm để con suy ngẫm lời Chúa.
\s5
\v 149 Bằng sự thành tín Chúa, xin Ngài nghe tiếng con; Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy giữ cho con được sống như Chúa đã hứa trong các sắc lệnh công chính của Ngài.
\s5
\v 150 Những kẻ bức hại con đang đến gần con hơn, nhưng chúng vẫn cách xa luật pháp Chúa.
\s5
\v 151 Chúa Hằng Hữu ôi, Chúa ở gần, và mọi điều răn Chúa đều đáng tin cậy.
\s5
\v 152 Từ lâu con đã học biết từ trong các sắc lệnh giao ước Chúa rằng Ngài đã lập chúng đến đời đời. RESH (20)
\s5
\v 153 Xin Chúa đoái nhìn sự hoạn nạn của con và cứu giúp con, vì con không quên luật pháp Chúa.
\s5
\v 154 Xin biện hộ cho chính nghĩa của con và cứu chuộc con, như Chúa đã hứa trong lời Ngài.
\s5
\v 155 Ơn cứu rỗi cách xa kẻ ác, vì chúng không yêu mến các luật lệ Chúa.
\s5
\v 156 Lạy Chúa Hằng Hữu, các việc nhân từ của Chúa vĩ đại thay; xin hãy giữ cho con được sống, như Chúa vẫn hằng làm.
\s5
\v 157 Những kẻ bắt bớ cùng kẻ thù của con thật là đông, nhưng con không xây khỏi các sắc lệnh giao ước Chúa.
\s5
\v 158 Con nhìn mà kinh tởm những kẻ bất trung, vì chúng không gìn giữ lời Chúa.
\s5
\v 159 Xin Chúa xem thấy rằng con yêu mến các huấn thị của Chúa biết bao; Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy giữ cho con được sống, như Chúa đã hứa bằng sự thành tín của Ngài.
\s5
\v 160 Bản chất của lời Chúa là đáng tin cậy; mỗi một sắc lệnh cong bình của Chúa đều còn đến đời đời. SHIN (21)
\s5
\v 161 Giới quan quyền bức hại con vô cớ; nhưng lòng con kính sợ lời Chúa.
\s5
\v 162 Con vui mừng về lời Chúa giống như kẻ tìm được chiến lợi phẩm giá trị.
\s5
\v 163 Con ghét và khinh bỉ sự giả dối, nhưng yêu mến luật pháp Chúa.
\s5
\v 164 Con ca ngợi Chúa bảy lần mỗi ngày vì các sắc lệnh công chính của Chúa.
\s5
\v 165 Kẻ yêu mến luật pháp Chúa được bình an lớn; chẳng điều gì khiến họ sẩy chân.
\s5
\v 166 Chúa Hằng Hữu ôi, con trông đợi ơn cứu rỗi của Chúa, và vâng theo các điều răn Ngài.
\s5
\v 167 Con tuân theo các mạng lệnh Chúa và rất yêu mến chúng.
\s5
\v 168 Con giữ các huấn thị của Chúa cùng các mạng lệnh hệ trọng của Ngài, vì Chúa biết mọi việc con làm. TAV (22)
\s5
\v 169 Chúa Hằng Hữu ôi, xin Chúa lắng tai nghe tiếng kêu cứu của con; xin giúp con hiểu biết lời Chúa.
\s5
\v 170 Nguyện lời cầu xin của con thấu đến trước Chúa; xin cứu giúp con, như Chúa đã hứa trong lời Ngài.
\s5
\v 171 Nguyện môi miệng con tuôn tràn lời ca ngợi Chúa, vì Chúa dạy con các luật lệ Ngài.
\s5
\v 172 Xin cho lưỡi con ca hát về lời Chúa, vì mọi điều răn Chúa đều phải lẽ.
\s5
\v 173 Nguyện tay Chúa giúp đỡ con, vì con đã chọn các hướng dẫn của Ngài.
\s5
\v 174 Chúa Hằng Hữu ôi, con mong ước sự giải cứu của Chúa, luật pháp Chúa là niềm vui thích của con.
\s5
\v 175 Nguyện con cứ sống và ca ngợi Chúa, và nguyện các sắc lệnh công chính của Chúa giúp đỡ con.
\s5
\v 176 Con lang thang khác nào con chiên lạc; xin hãy tìm kiếm tôi tớ Chúa, vì con không quên các điều răn Chúa.
\s5
\c 12
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin cứu giúp, vì người kính sợ Chúa không còn; kẻ có lòng chính trực đã biến mất khỏi giữa con cái loài người.
\s5
\v 2 Ai nấy đều nói những lời sáo rỗng với kẻ khác; mọi người đều hai lòng và có môi dua nịnh.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, xin cắt hết các môi dua nịnh đó, cùng mọi lưỡi huyênh hoang, khoác lác.
\s5
\v 4 Họ là những kẻ nói: “Chúng ta sẽ thắng nhờ miệng lưỡi mình. Khi môi chúng ta nói ra, ai có thể kiểm soát chúng ta?”
\s5
\v 5 " Chúa Hằng Hữu phán: “Vì tình trạng bạo hành người nghèo, vì những lời ta thán của kẻ thiếu thốn, Ta sẽ trỗi dậy. Ta sẽ ban cho họ sự an toàn mà họ trông mong.”
\s5
\v 6 Lời Chúa Hằng Hữu là lời tinh sạch, như bạc được thanh lọc trong lò trên đất, tinh luyện đến bảy lần.
\s5
\v 7 Ngài chính là Chúa Hằng Hữu! Ngài gìn giữ kẻ tin kính. Ngài bảo tồn họ giữa thế hệ gian tà này đến đời đời.
\s5
\v 8 Khi điều ác được đề cao giữa vòng các con loài người thì kẻ ác đi dạo khắp nơi.
\s5
\c 120
\p
\v 1 Trong cơn hoạn nạn, tôi kêu cầu Chúa Hằng Hữu, và Ngài đáp lời tôi.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu ôi, xin giải cứu mạng sống con khỏi những kẻ có môi giả dối, có lưỡi phỉnh lừa.
\s5
\v 3 Chúa sẽ phạt ngươi thế nào, và Ngài sẽ còn làm gì cho ngươi nữa, hỡi kẻ có lưỡi dối trá?
\s5
\v 4 Ngài sẽ bắn ngươi bằng các mũi tên nhọn của người chiến binh, đã được trui rèn trên than hực của cây chổi đậu.
\s5
\v 5 Khổ thân tôi quá vì phải tạm trú tại Mê-siếc; trước đây tôi đã sống giữa các trại Kê-đa.
\s5
\v 6 Tôi sống với những kẻ ghét hòa bình đã quá lâu.
\s5
\v 7 Tôi chuộng hòa bình, nhưng khi tôi lên tiếng thì chúng lại muốn chiến tranh.
\s5
\c 121
\p
\v 1 Tôi sẽ ngước mắt nhìn lên núi. Sự cứu giúp tôi sẽ đến từ đâu?
\s5
\v 2 Sự cứu giúp tôi đến từ Chúa Hằng Hữu, Đấng tạo dựng trời đất.
\s5
\v 3 Ngài sẽ không để cho chân ngươi trượt ngã; Đấng che chở ngươi sẽ không ngủ.
\s5
\v 4 Đấng bảo vệ Y-sơ-ra-ên không bao giờ ngủ hay chợp mắt.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu là Đấng bảo vệ ngươi; Chúa Hằng Hữu là bóng che bên tay phải ngươi.
\s5
\v 6 Mặt trời sẽ không hại ngươi lúc ban ngày, mặt trăng cũng không hại ngươi trong ban đêm.
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu sẽ che chở ngươi khỏi mọi tổn hại, và Ngài sẽ bảo vệ mạng sống ngươi.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu sẽ che chở ngươi trong mọi việc ngươi làm, từ nay cho đến đời đời.
\s5
\c 122
\p
\v 1 Tôi vui sướng khi người ta bảo tôi: “Chúng ta hãy đến nhà Chúa Hằng Hữu.”
\s5
\v 2 Hỡi Giê-ru-sa-lem, chân chúng tôi đang đứng trong các cửa người.
\s5
\v 3 Giê-ru-sa-lem được xây cất như một thành được hoạch định kỹ lưỡng.
\s5
\v 4 Các chi tộc của Chúa Hằng Hữu đi lên đó theo như luật định cho Y-sơ-ra-ên để cảm tạ danh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 5 Tại đó các lãnh đạo ngồi trên ngai xét xử, thay mặt nhà Đa-vít.
\s5
\v 6 Hãy cầu nguyện cho hòa bình của Giê-ru-sa-lem! Những kẻ yêu mến người sẽ được thạnh vượng.
\s5
\v 7 Nguyện sẽ có hòa bình ở giữa các tường thành bảo vệ người, và sự bình an giữa các tháp người.
\s5
\v 8 Vì các anh em và bạn hữu tôi, tôi sẽ nói rằng: “Nguyện sẽ có hòa bình nơi người.”
\s5
\v 9 Vì cớ nhà của Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa chúng ta, tôi sẽ cầu phước cho người.
\s5
\c 123
\p
\v 1 Lạy Đấng ngự trên các từng trời, con ngước mắt hướng lên Chúa.
\s5
\v 2 Như mắt của kẻ tôi tớ trông nơi tay ông chủ, như mắt của các tớ gái trông nơi tay bà chủ mình, thì mắt chúng con cũng trông đợi Thiên Chúa Hằng Hữu chúng con y như vậy, cho đến khi Ngài thương xót chúng con.
\s5
\v 3 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin thương xót chúng con, vì chúng con đã chán chê sự sỉ nhục.
\s5
\v 4 Sự nhạo báng của bọn xấc láo và sự khinh dể của lũ kiêu căng đã quá đủ đối với chúng con.
\s5
\c 124
\p
\v 1 Y-sơ-ra-ên hãy nói: “Nếu Chúa Hằng Hữu không đứng về phía chúng ta,
\s5
\v 2 nếu không phải Chúa Hằng Hữu bênh vực chúng ta khi con người nổi lên chống chúng ta,
\s5
\v 3 thì họ đã nuốt sống chúng ta khi nổi giận với chúng ta.
\s5
\v 4 Nước hẳn đã cuốn chúng ta đi; dòng nước hẳn đã tràn ngập chúng ta.
\s5
\v 5 Khối nước cuồng nộ hẳn đã nhấn chìm chúng ta.”
\s5
\v 6 Đáng chúc tụng Chúa Hằng Hữu, Đấng giữ chúng tôi khỏi bị răng chúng nó cắn xé.
\s5
\v 7 Chúng tôi đã thoát ra chẳng khác nào con chim thoát khỏi bẫy của kẻ gài bẫy; bẫy đứt và chúng tôi thoát được.
\s5
\v 8 Sự giúp đỡ chúng tôi ở trong Chúa Hằng Hữu, Đấng tạo dựng trời đất.
\s5
\c 125
\p
\v 1 Những kẻ tin cậy Chúa Hằng Hữu giống như núi Si-ôn, không rúng động, còn đến đời đời.
\s5
\v 2 Núi đồi bao quanh Giê-ru-sa-lem thế nào thì Chúa Hằng Hữu cũng bao quanh dân Ngài giống như vậy, từ nay cho đến đời đời.
\s5
\v 3 Cây trượng gian ác không thể cai trị trong xứ người công chính. Nếu không, người công chính có thể làm điều sai trái.
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ôi! Xin làm ơn cho người thiện lành và cho kẻ có lòng ngay thẳng.
\s5
\v 5 Còn những kẻ quay sang các đường lối quanh co của họ, Chúa Hằng Hữu sẽ dắt họ đi luôn cùng với kẻ làm dữ. Nguyện hòa bình ở trên Y-sơ-ra-ên.
\s5
\c 126
\p
\v 1 Khi Chúa Hằng Hữu phục hồi cơ đồ của Si-ôn thì chúng tôi giống như kẻ nằm mơ.
\s5
\v 2 Lúc đó miệng chúng tôi cười vui sướng và lưỡi chúng tôi hát mừng. Rồi chúng sẽ nói giữa các nước: “Chúa hằng Hữu đã làm những việc lới lao cho họ.”
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu đã làm những việc lớn cho chúng tôi; chúng tôi sung sướng biết bao!
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ôi! Xin phục hồi cơ đồ của chúng con giống như các dòng suối tại Nê-ghép.
\s5
\v 5 Những người gieo giống trong nước mắt sẽ gặt hái với tiếng reo vui.
\s5
\v 6 Kẻ nào vừa đi vừa khóc, đem giống ra gieo, sẽ lại trở về cách vui mừng, mang theo mình các bó lúa.
\s5
\c 127
\p
\v 1 Nếu Chúa Hằng Hữu không cất nhà thì thợ xây làm việc phí công. Nếu Chúa Hằng Hữu không canh giữ thành thì kẻ gác thành có canh giữ cũng vô ích.
\s5
\v 2 Thật uổng công cho các người dậy sớm, về trễ, hay ăn bánh lao nhọc của mình, vì Chúa Hằng Hữu ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến.
\s5
\v 3 Kìa, con cái là cơ nghiệp từ Chúa Hằng Hữu, bông trái của tử cung là phần thưởng Ngài ban.
\s5
\v 4 Con cái sinh lúc xuân xanh khác nào các mũi tên trong tay người chiến binh.
\s5
\v 5 Người nào mang ống đầy tên thật có phước. Người sẽ không bị hổ thẹn khi đối đấu với các kẻ thù mình ở cổng thành.
\s5
\c 128
\p
\v 1 Phước cho mọi người tôn kính Chúa Hằng Hữu, bước đi trong các lối Ngài.
\s5
\v 2 Công lao tay mình ngươi sẽ được hưởng; ngươi sẽ được phước và thịnh vượng.
\s5
\v 3 Vợ ngươi sẽ như cây nho sai quả trong nhà ngươi; các con ngươi khi ngồi chung quanh bàn ngươi sẽ như những cây ô-liu.
\s5
\v 4 Thật, người nào tôn kính Chúa Hằng Hữu sẽ được phước.
\s5
\v 5 Nguyện Chúa Hằng Hữu từ Si-ôn ban phước cho ngươi; nguyện ngươi được thấy sự thạnh vượng của Giê-ru-sa-lem trọn những ngày tháng của đời mình.
\s5
\v 6 Nguyện ngươi được sống để nhìn thấy các cháu chắt của mình. Nguyện hòa bình giáng trên Y-sơ-ra-ên.
\s5
\c 129
\p
\v 1 Y-sơ-ra-ên hãy nói: “Từ khi tôi còn niên thiếu chúng vẫn thường tấn công tôi.
\s5
\v 2 Từ khi tôi còn trẻ chúng thường vẫn thường công kích tôi nhưng chúng không thắng được.
\s5
\v 3 Chúng cày xới trên lưng tôi; chúng làm thành những luống cày dài.
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu là công chính; Ngài đã cắt dây thừng của kẻ ác.”
\s5
\v 5 Nguyện mọi kẻ nào thù ghét Si-ôn sẽ bị hổ thẹn và phải quay về.
\s5
\v 6 Nguyện chúng giống như cỏ trên mái nhà bị khô héo khi chưa kịp lớn,
\s5
\v 7 nên người gặt không nắm được đầy tay, kẻ bó không ôm được đầy lòng.
\s5
\v 8 Nguyện những kẻ qua lại không nói: “Nguyện phước của Chúa Hằng Hữu giáng trên anh em; chúng tôi chúc lành cho anh em, nhân danh Chúa Hằng Hữu.”
\s5
\c 13
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài sẽ quên con đến bao giờ? Ngài sẽ ẩn mặt với con cho đến khi nào?
\s5
\v 2 Con còn phải âu lo và buồn thảm suốt ngày trong lòng bao lâu nữa? Kẻ thù của con sẽ còn thắng thế cho đến khi nào?
\s5
\v 3 Ôi Thiên Chúa Hằng Hữu con, xin nhìn con và đáp lời con. Xin Chúa mở mắt con, nếu không con sẽ chìm vào giấc ngủ ngàn thu.
\s5
\v 4 Xin đừng để kẻ thù con nghĩ: “Ta đã đánh bại hắn rồi,” để hắn khỏi huyênh hoang rằng: “Ta đã thắng hơn đối thủ”; vì nếu không, các kẻ thù con sẽ mừng rỡ khi con bị hạ gục.
\s5
\v 5 Nhưng con đã tin cậy lòng thành tín về giao ước của giao ước Chúa; lòng con vui mừng trong sự cứu rỗi của Ngài.
\s5
\v 6 Con sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu vì Ngài đã hậu đãi con.
\s5
\c 130
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, từ vực thẳm con kêu cầu Ngài.
\s5
\v 2 Lạy Chúa, xin hãy nghe tiếng con; nguyện Chúa lắng tai nghe lời con cầu xin ơn thương xót.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, nếu Ngài chấp tội thì, Chúa ôi, ai có thể đứng nổi?
\s5
\v 4 Nhưng Chúa có lòng tha thứ, để người ta kính sợ Ngài.
\s5
\v 5 Tôi trông đợi Chúa Hằng Hữu, linh hồn tôi trông đợi, và tôi hy vọng nơi lời Ngài.
\s5
\v 6 Linh hồn tôi trông đợi Chúa còn hơn cả người lính canh trông trời sáng.
\s5
\v 7 Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy hy vọng nơi Chúa Hằng Hữu. Chúa Hằng Hữu nhân từ và Ngài sẵn lòng tha thứ.
\s5
\v 8 Chính Ngài sẽ chuộc Y-sơ-ra-ên khỏi mọi tội lỗi của nó.
\s5
\c 131
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, lòng con không kiêu ngạo, mắt con không tự cao. Con không kỳ vọng nhiều về bản thân, cũng không để mình bận tâm về những việc vượt quá sức.
\s5
\v 2 Thật, con đã khiến linh hồn mình êm dịu và an tịnh; như con trẻ đã thôi bú bên mẹ nó, linh hồn con ở trong con giống như đứa trẻ dứt sữa.
\s5
\v 3 Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy hy vọng nơi Chúa Hằng Hữu, từ nay cho đến đời đời.
\s5
\c 132
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, vì cớ Đa-vít, xin Ngài nhớ lại mọi hoạn nạn người phải chịu.
\s5
\v 2 Xin Chúa nhớ lại người đã thề thốt thế nào với Chúa Hằng Hữu, đã hứa nguyện ra sao với Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.
\s5
\v 3 Người đã nói: “Con sẽ không vào nhà mình, cũng không đi ngủ,
\s5
\v 4 con sẽ không cho mắt mình được ngủ, không cho mí mắt mình được nghỉ ngơi
\s5
\v 5 cho đến khi con tìm được một chỗ cho Chúa Hằng Hữu, một nơi ngự cho Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.”
\s5
\v 6 Kìa, chúng con có nghe nói về nó tại Ép-ra-ta; chúng con tìm thấy nó trong các cánh đồng Gia-a.
\s5
\v 7 Chúng con sẽ vào nơi Chúa ngự; chúng con sẽ thờ phượng tại bệ chân Ngài.
\s5
\v 8 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy trỗi dậy; xin Chúa đến nơi an nghỉ của Ngài.
\s5
\v 9 Nguyện các thầy tế lễ của Chúa mặc đồ bằng sự chánh trực; nguyện những người trung tín của Ngài reo mừng.
\s5
\v 10 Vì cớ tôi tớ Ngài là Đa-vít, xin Chúa đừng quay lưng lại với vua đã được xức dầu của Ngài.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu thề hứa sẽ không để Đa-vít thất vọng; Ngài sẽ không rút khỏi lời thề mình, rằng: “Ta sẽ đặt một hậu tự con trên ngôi con.”
\s5
\v 12 Nếu con cái con vâng giữ giao ước Ta và các luật lệ mà Ta sẽ dạy chúng nó, thì con cháu con cũng sẽ ngồi trên ngôi con đến đời đời.”
\s5
\v 13 Hẳn là Chúa Hằng Hữu đã chọn Si-ôn; Ngài muốn đặt ngai mình tại đó.
\s5
\v 14 Đây là nơi an nghỉ của Ta đời đời; Ta sẽ sống ở đây, vì Ta ưa thích nó.
\s5
\v 15 Ta sẽ ban cho nó dồi dào lương thực; Ta sẽ cho kẻ nghèo của nó được no đủ.
\s5
\v 16 Ta sẽ lấy sự cứu rỗi mặc cho các thầy tế lễ nó; các kẻ trung tín của nó sẽ lớn tiếng reo mừng.
\s5
\v 17 Ở đó Ta sẽ khiến một cái sừng mọc lên cho Đa-vít và đặt một cây đèn tại đó cho kẻ chịu xức dầu của Ta.
\s5
\v 18 Ta sẽ lấy sự xấu hổ mặc cho các kẻ thù của người, còn vương miện người sẽ chiếu sáng trên người.
\s5
\c 133
\p
\v 1 Kìa, anh em cứ sống với nhau trong sự hiệp một thật tốt đẹp và thú vị biết bao!
\s5
\v 2 Điều đó giống như dầu quý trên đầu chảy xuống râu, tức râu A-rôn, rồi chảy xuống áo người.
\s5
\v 3 Nó giống như sương móc từ núi Hẹt-môn sa xuống các núi Si-ôn. Vì tại đó Chúa Hằng Hữu đã ban phước, là sự sống đời đời.
\s5
\c 134
\p
\v 1 Hỡi tất cả các tôi tớ của Chúa Hằng Hữu, những người ban đêm phục vụ trong nhà Chúa Hằng Hữu, hãy đến chúc tôn Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Hãy đưa tay lên hướng về nơi thánh và chúc tụng Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 3 Nguyện Chúa Hằng Hữu, Đấng tạo dựng trời đất, từ Si-ôn ban phước cho anh em.
\s5
\c 135
\p
\v 1 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Hãy ca ngợi danh Chúa Hằng Hữu. Hãy ca ngợi Ngài, hỡi anh em là tôi tớ của Chúa Hằng Hữu,
\s5
\v 2 những người đứng trực trong nhà Chúa Hằng Hữu, trong sân đền của nhà Thiên Chúa chúng ta.
\s5
\v 3 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, vì Ngài là thiện lành; hãy hát ca ngợi danh Ngài, vì thật thỏa vui khi được làm như vậy.
\s5
\v 4 Vì Chúa Hằng Hữu đã chọn Gia-cốp cho mình, chọn Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp mình.
\s5
\v 5 Tôi biết Chúa Hằng Hữu vĩ đại, Chúa chúng tôi vượt trên hết các thần.
\s5
\v 6 Điều gì Chúa Hằng Hữu muốn thì Ngài làm ở trên trời, dưới đất, dưới biển và trong mọi vực sâu của đại dương.
\s5
\v 7 Ngài mang mây từ phương xa đến, khiến các tia chớp đi kèm theo mưa và đem gió từ trong kho Ngài ra.
\s5
\v 8 Ngài giết các con đầu lòng của cả người ta lẫn súc vật tại Ai Cập.
\s5
\v 9 Hỡi Ai Cập, Ngài đã thực hiện các dấu và phép lạ ở giữa ngươi, để phạt Pha-ra-ôn cùng quần thần người.
\s5
\v 10 Ngài đánh nhiều nước, giết chết các vị vua hùng mạnh,
\s5
\v 11 như Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và Óc, vua Ba-san, cùng mọi nước tại Ca-na-an.
\s5
\v 12 Ngài ban xứ của chúng cho dân Ngài là Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu ôi, danh Ngài lưu lại đến đời đời; tiếng tăm Ngài còn mãi qua mọi thế hệ.
\s5
\v 14 Vì Chúa Hằng Hữu bảo vệ dân Ngài và thương xót các tôi tớ Ngài.
\s5
\v 15 Tượng thần của các dân chỉ là bạc và vàng, là công việc của bàn tay người ta.
\s5
\v 16 Các tượng thần đó có miệng mà không nói được; chúng có mắt mà không thấy được;
\s5
\v 17 chúng có tai mà không nghe, cũng chẳng có hơi thở trong miệng chúng nó.
\s5
\v 18 Những kẻ tạo ra chúng đều giống như chúng, mà kẻ nào nhờ cậy chúng cũng vậy.
\s5
\v 19 Hỡi các hậu tự Y-sơ-ra-ên, hãy tôn vinh Chúa Hằng Hữu; hỡi các con cháu A-rôn, hãy tôn vinh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 20 Hỡi các con cháu Lê-vi, hãy tôn vinh Chúa Hằng Hữu; anh em là kẻ tôn kính Chúa Hằng Hữu, hãy tôn vinh Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 21 Đáng chúc tôn Chúa Hằng Hữu ở Si-ôn, Đấng ngự tại Giê-ru-sa-lem. Ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 136
\p
\v 1 Ôi, hãy cảm tạ Chúa Hằng Hữu; vì Ngài là thiện lành, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 2 Hãy cảm tạ Thiên Chúa của các thần, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 3 Hãy cảm tạ Chúa của các chúa, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 4 Hãy cảm tạ Đấng duy nhất làm các phép lạ diệu kỳ, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 5 Hãy cảm tạ Đấng bởi sự khôn ngoan mình đã tạo nên các tầng trời, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 6 Hãy cảm tạ Đấng đã trải đất ra trên nước, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 7 Hãy cảm tạ Đấng tạo ra các nguồn sáng lớn, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời—
\s5
\v 8 Hãy cảm tạ Đấng đã ban mặt trời để cai quản ban ngày, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời;
\s5
\v 9 mặt trăng và các ngôi sao để cai quản ban đêm, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 10 Hãy cảm tạ Đấng đã giết chết con trưởng xứ Ai Cập, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 11 Và đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa vòng chúng nó, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 12 bởi bàn tay mạnh sức và cánh tay giơ lên, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 13 Hãy cảm tạ Đấng đã chia đôi biển Sậy, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 14 và cho dân Y-sơ-ra-ên đi qua giữa biển, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời;
\s5
\v 15 nhưng Ngài tiêu diệt Pha-ra-ôn cùng đạo binh ông ta dưới biển Sậy vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 16 Hãy cảm tạ Đấng đã dẫn dắt dân mình đi qua hoang mạc, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 17 Hãy cảm tạ Đấng đã giết chết các vua lớn, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 18 và giết chết các vua nổi tiếng, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời—
\s5
\v 19 như Si-hôn, vua dân A-mô-rít, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 20 và Óc, vua Ba-san, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 21 Ngài ban đất của chúng cho họ làm sản nghiệp, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 22 tức sản nghiệp cho Y-sơ-ra-ên là tôi tớ Ngài, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 23 Hãy cảm tạ Đấng đã nhớ đến chúng ta và cứu giúp chúng ta khi chúng ta bị sỉ nhục, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 24 Hãy cảm tạ Đấng đã ban cho chúng ta chiến thắng quân thù, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời,
\s5
\v 25 Đấng ban lương thực cho mọi sinh vật, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\v 26 Ồ, hãy cảm tạ Thiên Chúa trên trời, vì lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời.
\s5
\c 137
\p
\v 1 Bên dòng sông Ba-by-lôn, chúng tôi ngồi xuống than khóc khi nghĩ đến Si-ôn.
\s5
\v 2 Chúng tôi treo đàn hạc mình lên các cây dương tại đó.
\s5
\v 3 Ở đó, những kẻ đày ải chúng tôi bắt chúng tôi ca hát, những kẻ nhạo cười chúng tôi bảo chúng tôi vui vẻ, rằng: “Hãy hát cho bọn tao nghe một bài ca xứ Si-ôn.”
\s5
\v 4 Làm sao chúng tôi có thể hát về Chúa Hằng Hữu tại một xứ lạ?
\s5
\v 5 Hỡi Giê-ru-sa-lem, nếu tôi quên người, nguyện tay phải tôi quên đi tài khéo của nó.
\s5
\v 6 Nguyện lưỡi tôi dính vào vòm họng nếu tôi không còn nghĩ về người, nếu tôi không ưu ái Giê-ru-sa-lem với niềm vui thích.
\s5
\v 7 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin nhớ lại việc dân Ê-đôm đã làm vào ngày Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Chúng bảo: “Hãy phá đổ nó! hãy san nó thành bình địa!.”
\s5
\v 8 Con gái Ba-by-lô phải sớm bị hủy diệt— phước cho người nào báo trả lại cho mày việc mày đã làm với chúng tao.
\s5
\v 9 Phước cho người nào bắt các con nhỏ mày ném vào đá.
\s5
\c 138
\p
\v 1 Con sẽ hết lòng cảm tạ Chúa; trước mặt các thần, con sẽ hát ca ngợi Chúa.
\s5
\v 2 Con sẽ sấp mình xuống hướng về đền thánh Chúa và cảm tạ danh Chúa vì lòng thành tín về giao ước và lòng chân thật của Chúa. Chúa đã khiến lời Ngài và danh Ngài quan trọng hơn tất cả.
\s5
\v 3 Trong ngày con kêu cầu Chúa thì Ngài đã đáp lời con; Ngài khích lệ và thêm sức cho linh hồn con.
\s5
\v 4 Lạy Chúa Hằng Hữu, mọi vua trên đất sẽ cảm tạ Ngài, vì họ sẽ được nghe lời từ miệng Ngài.
\s5
\v 5 Thật, họ sẽ ca hát về các công việc của Chúa Hằng Hữu, vì vinh quang của Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại.
\s5
\v 6 Vì dù Chúa Hằng Hữu cao trọng, nhưng Ngài quan tâm đến người thấp kém, còn kẻ kiêu ngạo thì Ngài nhận biết từ xa.
\s5
\v 7 Dù con có bước đi giữa hiểm nguy thì Chúa cũng bảo tồn mạng sống con; Chúa sẽ giơ tay chống lại cơn giận của những kẻ thù nghịch con, và tay phải Ngài sẽ cứu con.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ở cùng con cho đến cuối cùng; Chúa Hằng Hữu ôi, lòng thành tín về giao ước Ngài còn đến đời đời; xin chớ từ bỏ những kẻ tay Chúa đã tạo ra.
\s5
\c 139
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, Chúa đã dò xét con, và Ngài biết con.
\s5
\v 2 Chúa biết khi con ngồi và khi con đứng dậy; từ xa Chúa hiểu được các ý tưởng con.
\s5
\v 3 Chúa theo dõi đường con đi cũng như khi con nằm xuống; Chúa quen thuộc hết các nẻo của con.
\s5
\v 4 Vì, Chúa Hằng Hữu ôi, trước khi có một từ nào trên lưỡi con, Ngài đã biết cả.
\s5
\v 5 Chúa bao bọc con phía sau lẫn phía trước, và đặt tay Chúa trên con.
\s5
\v 6 Sự hiểu biết ấy thật quá sức con; nó cao quá, con không hiểu nổi.
\s5
\v 7 Con đi đâu để thoát khỏi Thần Linh Chúa? Con chạy đâu để tránh mặt Chúa đây?
\s5
\v 8 Nếu con lên trời, Chúa đang ở đó; nếu con nằm dưới âm phủ thì, kìa, Chúa cũng có ở đó.
\s5
\v 9 Nếu con chắp cánh ban mai bay đi rồi đến sống tại những chốn tận cùng bên kia biển,
\s5
\v 10 thì thậm chí tại đó tay Chúa cũng dẫn đưa con, bàn tay hữu Ngài sẽ nắm giữ con.
\s5
\v 11 Nếu con bảo: “Bóng tối chắc chắn sẽ che giấu mình, và ánh sáng quanh mình sẽ thành ra đêm tối;”
\s5
\v 12 thì ngay cả bóng tối cũng không giấu được con. Ban đêm chiếu sáng như ban ngày, vì bóng tối và ánh sáng đối với Chúa đều như nhau.
\s5
\v 13 Chúa đã làm nên con người bên trong của con; Chúa đã nắn nên con trong lòng mẹ con.
\s5
\v 14 Con sẽ cảm tạ Chúa, vì các việc Chúa làm thật đáng sợ và diệu kỳ. Chúa biết rất rõ cuộc đời con.
\s5
\v 15 Thể chất con không khuất mắt Chúa khi con được tạo nên trong chỗ riêng tư, khi con được tạo thành cách tinh xảo trong các vực sâu của đất.
\s5
\v 16 Chúa đã nhìn thấy con trong lòng mẹ con; toàn bộ số ngày định cho con đã được ghi vào sổ của Chúa thậm chí trước khi ngày đầu tiên khởi sự.
\s5
\v 17 Thiên Chúa ôi, các tư tưởng của Chúa đối với con thật quý báu biết bao! Gộp lại chúng nhiều vô kể!
\s5
\v 18 Nếu con cố đếm các tư tưởng ấy thì số chúng nó nhiều hơn cát. Khi con thức giấc thì con vẫn còn ở với Chúa.
\s5
\v 19 Thiên Chúa ôi, uớc gì Chúa giết chết bọn ác gian; hỡi những kẻ hung bạo kia, hãy tránh xa tôi ra.
\s5
\v 20 Chúng nổi loạn với Chúa và hành động cách dối trá; các kẻ thù của Chúa nói dối.
\s5
\v 21 Chúa Hằng Hữu ôi, con chẳng ghét những kẻ ghét Chúa sao? Con không khinh miệt những kẻ nổi lên chống nghịch Ngài sao?
\s5
\v 22 Con thật ghét chúng; chúng đã trở nên kẻ thù của con.
\s5
\v 23 Thiên Chúa ôi, xin dò xét con và biết các ý nghĩ của con.
\s5
\v 24 Xin Chúa xem có lối ác nào trong con chăng, rồi dắt đưa con trong đường lối đời đời.
\s5
\c 14
\p
\v 1 Kẻ xuẩn ngốc tự nhủ trong lòng rằng: “Chẳng có Thiên Chúa.” Chúng đồi bại và phạm các việc đáng kinh tởm; chẳng có người nào làm điều thiện lành.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu từ trời nhìn xuống con cái loài người để xem có ai hiểu biết, có ai tìm kiếm Ngài không.
\s5
\v 3 Tất cả đều sai lạc; mọi người đều bại hoại; chẳng có ai làm điều thiện lành, dầu một người cũng không.
\s5
\v 4 Những kẻ phạm tội, những kẻ ăn nuốt dân ta như thể ăn bánh, nhưng lại chẳng cầu khẩn Chúa Hằng Hữu, bộ chúng không biết gì sao?
\s5
\v 5 Chúng run sợ, vì Thiên Chúa ở cùng hội người công chính!
\s5
\v 6 Các người muốn hạ nhục kẻ nghèo dù cho Chúa Hằng Hữu là nơi nương náu của người.
\s5
\v 7 Ồ, ước gì sự cứu rỗi Y-sơ-ra-ên đến từ Si-ôn! Khi Chúa Hằng Hữu đưa lưu dân của Ngài trở về, thì Gia-cốp sẽ vui mừng, Y-sơ-ra-ên sẽ sung sướng!
\s5
\c 140
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin giải cứu con khỏi bọn gian ác; xin giữ gìn con khỏi những kẻ bạo hành.
\s5
\v 2 Chúng toan mưu ác trong lòng; ngày ngày chúng đi gây chiến.
\s5
\v 3 Lưỡi chúng lươn lẹo như loài rắn; nọc rắn hổ lục ở trên môi chúng nó. Sê-la
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ôi, xin giữ con khỏi tay của phường gian ác; xin bảo hộ con khỏi lũ hung bạo toan tính hạ gục con.
\s5
\v 5 Những kẻ kiêu ngạo đã đặt bẫy hại con; chúng đã giăng lưới ra; chúng đã giăng bẫy chờ con. Sê-la
\s5
\v 6 Con thưa với Chúa Hằng Hữu: “Ngài là Thiên Chúa con; xin nghe tiếng con kêu xin ơn thương xót.”
\s5
\v 7 Lạy Chúa Hằng Hữu, là Chúa của con, Chúa có quyền cứu; Chúa che chắn đầu con trong ngày chiến trận.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng ban cho kẻ ác điều chúng ước muốn; chớ để cho mưu đồ của chúng được thành. Sê-la
\s5
\v 9 Những kẻ vây hãm con ngóc đầu dậy; nguyện lời gian ác từ môi miệng chúng nó ập lại trên chúng nó.
\s5
\v 10 Nguyện than lửa đỏ đổ xuống chúng nó; xin hãy ném chúng vào lửa, xuống các vực thẳm, không trở lên được.
\s5
\v 11 Nguyện kẻ nào nói ác về người khác sẽ không được vững an trên đất; nguyện điều dữ săn đuổi kẻ hung bạo để đánh chết nó.
\s5
\v 12 Tôi biết Chúa Hằng Hữu sẽ biện hộ cho kẻ khốn cùng, và Ngài sẽ thi hành công lý cho người thiếu thốn.
\s5
\v 13 Chắc chắn người công chính sẽ cảm tạ danh Chúa; người ngay thẳng sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài.
\s5
\c 141
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, con đang kêu cầu Ngài; xin mau đến với con. Xin hãy lắng tai nghe khi con kêu cầu Chúa.
\s5
\v 2 Nguyện lời cầu nguyện con sẽ như hương thơm trước mặt Ngài; nguyện đôi tay giơ lên của con giống như sinh tế lúc ban chiều.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đặt một kẻ giữ miệng mồm con; xin canh cửa môi con.
\s5
\v 4 Xin Chúa đừng để lòng con ước muốn điều gì xấu xa hoặc tham dự vào các việc tội lỗi của những kẻ hành xử gian ác. Nguyện con sẽ không ăn bất kỳ vật ngon gì của chúng nó.
\s5
\v 5 Hãy để người công chính đánh con; đó sẽ như là việc nhân từ đối với con. Hãy để người sửa phạt con; đó sẽ như xức dầu trên đầu con; nguyện đầu con không từ chối nhận dầu đó. Nhưng lời cầu nguyện của con luôn chống lại việc làm của kẻ ác.
\s5
\v 6 Giới lãnh đạo chúng nó sẽ bị ném xuống vách núi; chúng sẽ biết rằng lời của chính con dễ nghe.
\s5
\v 7 Chúng sẽ phải nói: “Người ta cày và vỡ đất thể nào thì xương cốt chúng tôi cũng bị rải ra tại miệng của âm ti thể ấy.”
\s5
\v 8 Ôi Chúa Hằng Hữu, là Chúa, chắc chắn mắt con trông đợi Ngài; con nương náu mình nơi Ngài; xin đừng để linh hồn con xa cách Chúa.
\s5
\v 9 Xin bảo vệ con khỏi lưới mà chúng đã giăng để hại con, khỏi các bẫy của kẻ làm ác.
\s5
\v 10 Nguyện kẻ ác sa lại vào lưới của chính chúng, còn con thì thoát khỏi.
\s5
\c 142
\p
\v 1 Con lên tiếng kêu cầu Chúa Hằng Hữu; con cất tiếng cầu xin Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Trước mặt Chúa, con dốc lòng than thở; con trình cho Chúa các nan đề mình.
\s5
\v 3 Khi tâm linh con yếu đuối trong con thì Chúa biết đường con đi. Trên con đường con tiến bước chúng đã đặt bẫy chực chờ.
\s5
\v 4 Con nhìn sang bên phải nhưng thấy chẳng có ai quan tâm đến mình. Con không có lối thoát; chẳng người nào quan tâm đến mạng sống con.
\s5
\v 5 Lạy Chúa Hằng Hữu, con đã kêu cầu với Ngài, rằng: “Chúa là nơi ẩn náu của con, là phần của con trong đất kẻ sống.
\s5
\v 6 Xin Chúa lắng tai nghe tiếng kêu của con, vì con đã kiệt sức. Xin giải cứu con khỏi những kẻ bức hại con, vì chúng mạnh hơn con.
\s5
\v 7 Xin đem linh hồn con khỏi chốn lao tù để con có thể cảm tạ danh Ngài. Người công chính sẽ nhóm lại quanh con vì Chúa đã nhân từ với con.”
\s5
\c 143
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin nghe lời con cầu nguyện; xin Chúa lắng tai nghe các điều con cầu xin. Xin hãy đáp lời con, vì cớ lòng thành tín về giao ước và sự công chính của Chúa.
\s5
\v 2 Xin Chúa đừng đoán xét tôi tớ Chúa, vì trước mặt Chúa chẳng có ai công chính cả.
\s5
\v 3 Kẻ thù đã săn đuổi linh hồn con; hắn đẩy con xuống đất; hắn buộc con sống trong bóng tối như người đã chết từ lâu rồi.
\s5
\v 4 Tinh thần con bị chao đảo trong con; lòng con mất hết hy vọng.
\s5
\v 5 Con hồi tưởng lại ngày trước; con suy ngẫm về mọi việc Chúa đã làm; con ngẫm nghĩ về những điều Ngài đã thực hiện.
\s5
\v 6 Con dang tay hướng về Chúa mà cầu nguyện; linh hồn con khát khao Chúa trong một xứ khô khan. Sê-la
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy mau đáp lời con, vì tinh thần con đã mòn yếu. Xin đừng ẩn mặt khỏi con, kẻo con giống như kẻ đi xuống mộ huyệt.
\s5
\v 8 Buổi sáng, xin cho con nghe được sự thành tín Chúa, vì con tin cậy Ngài. Xin chỉ cho con con đường mình phải đi, vì linh hồn con hướng về Ngài.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu ôi, xin giải cứu con khỏi quân thù mình; con chạy đến ẩn mình nơi Chúa.
\s5
\v 10 Xin dạy con làm theo ý Chúa, vì Ngài là Thiên Chúa của con. Nguyện Thần Linh thiện lành của Chúa dẫn con vào xứ sở người công chính.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu ôi, xin giữ cho con được sống, vì cớ danh Chúa; trong sự công chính của Chúa, xin đem linh hồn con ra khỏi khó khăn.
\s5
\v 12 Trong sự thành tín của Ngài, xin trừ khử các kẻ thù nghịch con và diệt hết các cừu địch của đời sống con, vì con là tôi tớ Ngài.
\s5
\c 144
\p
\v 1 Ngợi khen Chúa Hằng Hữu, là vầng đá của con, Đấng luyện đôi bàn tay con chiến đấu, tập các ngón tay con đánh trận.
\s5
\v 2 Chúa là sự thành tín, là đồn lũy, là tòa tháp cao của con, Đấng giải cứu con, là thuẫn che con, trong Chúa con nương náu mình và Ngài khiến các dân phải suy phục con.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, loài người là gì mà Chúa lưu ý đến, con loài người là chi mà Chúa lại quan tâm?
\s5
\v 4 Con người ta chẳng khác nào hơi thở; ngày tháng của họ chỉ như cái bóng thoáng qua.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hạ bầu trời xuống và ngự giáng; xin Chúa chạm đến các ngọn núi và khiến chúng bốc khói.
\s5
\v 6 Xin Chúa giáng chớp nháng và đánh tan tác các kẻ thù của con; xin Ngài bắn tên và khiến chúng phải lùi lại vì rối loạn.
\s5
\v 7 Từ trên cao xin Chúa chìa tay xuống; xin giải cứu con ra khỏi vòng nguy hiểm từ tay của những người ngoại quốc này.
\s5
\v 8 Miệng chúng nói gian, tay phải chúng chỉ là giả dối.
\s5
\v 9 Thiên Chúa ôi, con sẽ hát cho Chúa một bài ca mới; con sẽ dùng đàn cầm mười dây mà đàn hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 10 Chúa ban sự cứu rỗi cho các vua; Chúa đã giải cứu đầy tớ Chúa là Đa-vít khỏi thanh gươm hiểm ác.
\s5
\v 11 Xin cứu con và giải thoát con khỏi tay của những người ngoại quốc này. Miệng chúng nói gian; tay chúng chỉ là giả dối.
\s5
\v 12 Nguyện con trai chúng con sẽ giống như cây phát triển đầy đặn lúc tuổi xuân, còn con gái thì như những trụ cột góc nhà được chạm trổ theo hình dạng của trụ cột trong cung đền.
\s5
\v 13 Nguyện kho vựa chúng con đầy tràn đủ thứ nông sản, nguyện đàn chiên chúng con sinh sản hàng ngàn, hàng vạn trên cánh đồng.
\s5
\v 14 Rồi đàn bò chúng con sinh sôi thêm nhiều. Chúng con chẳng còn bị phá tường khoét vách; không còn cảnh lưu đày, cũng chẳng có tiếng kêu la ngoài đường phố.
\s5
\v 15 Phước thay cho dân nào được như vậy; hạnh phúc thay cho dân nào có Chúa Hằng Hữu làm Thiên Chúa mình.
\s5
\c 145
\p
\v 1 Hỡi Vua, là Thiên Chúa của con, con sẽ ca tụng Chúa; con sẽ ngợi khen Chúa đời đời, mãi mãi.
\s5
\v 2 Hằng ngày, con sẽ chúc tán Chúa; con sẽ ca ngợi danh Ngài đời đời, mãi mãi.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại, và đáng được ngợi khen; sự vĩ đại của Ngài không dò thấu được.
\s5
\v 4 Thế hệ này sẽ ca tụng công việc Chúa cho thế hệ kế tiếp và sẽ rao ra các việc quyền năng của Chúa.
\s5
\v 5 Con sẽ suy ngẫm về sự oai nghi của vinh quang Chúa cũng như về những việc diệu kỳ của Ngài.
\s5
\v 6 Người ta sẽ nói về quyền năng những việc lớn và đáng sợ của Chúa; con sẽ công bố sự vĩ đại của Ngài.
\s5
\v 7 Người ta sẽ rao ra đức nhân từ dư dật của Chúa, họ sẽ hát về đức công chính của Ngài.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu thật bao dung, nhân từ, chậm giận và rất thành tín.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu nhân hậu với mọi người; Chúa từ bi đối với mọi tạo vật của Ngài.
\s5
\v 10 Chúa Hằng Hữu ôi, mọi vật Ngài tạo ra sẽ cảm tạ Ngài; những người trung thành với Chúa sẽ chúc tán Ngài.
\s5
\v 11 Những kẻ trung tín với Chúa sẽ nói về vinh quang của nước Chúa, họ cũng sẽ nói về quyền năng Ngài.
\s5
\v 12 Họ sẽ nói cho người ta biết các công việc quyền năng cùng sự rực rỡ vinh hiển của nước Chúa.
\s5
\v 13 Nước Chúa là nước đời đời, quyền thế Chúa trường tồn suốt mọi thế hệ.
\s5
\v 14 Kẻ ngã té Chúa Hằng Hữu đỡ nâng, người cong khom Chúa khiến đứng ngay dậy.
\s5
\v 15 Mắt của mọi loài trông đợi Chúa; đúng thời điểm Chúa ban vật thực cho chúng.
\s5
\v 16 Chúa xòe tay ra làm thỏa nguyện mọi vật sống.
\s5
\v 17 Chúa Hằng Hữu là công chính trong mọi đường lối Ngài và bao dung trong mọi việc Ngài làm.
\s5
\v 18 Chúa Hằng Hữu ở gần tất cả những ai kêu cầu Ngài, tức mọi người kêu cầu Ngài với lòng tin cậy.
\s5
\v 19 Ngài đáp ứng niềm khao khát của những kẻ tôn kính Ngài, nghe tiếng kêu xin của họ và cứu vớt họ.
\s5
\v 20 Chúa Hằng Hữu canh giữ mọi người yêu mến Ngài, nhưng sẽ diệt hết kẻ gian ác.
\s5
\v 21 Miệng con sẽ nói ra lời ca ngợi Chúa Hằng Hữu; nguyện toàn thể nhân loại ngợi khen danh thánh của Chúa đời đời, mãi mãi.
\s5
\c 146
\p
\v 1 Hãy ngợi khen Chúa Hằng Hữu. Hỡi linh hồn ta, hãy ca tụng Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Cả đời tôi sẽ ngợi khen Chúa Hằng Hữu. Còn sống bao lâu thì tôi sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu bấy lâu.
\s5
\v 3 Đừng tin cậy vua chúa hay con người, là nơi không có sự cứu rỗi.
\s5
\v 4 Khi hơi sống tắt đi, người ta trở về với đất; trong ngày đó, các toan tính của họ cũng chấm dứt.
\s5
\v 5 Phước cho kẻ có Thiên Chúa của Gia-cốp giúp đỡ, tức kẻ đặt hy vọng nơi Thiên Chúa Hằng Hữu mình.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu tạo dựng trời và đất, biển cùng mọi vật dưới biển; Ngài giữ lòng chân thật đến đời đời.
\s5
\v 7 Ngài thi hành sự công bình cho kẻ bị áp bức và ban lương thực cho người đói. Chúa Hằng Hữu giải phóng người bị tù.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu mở mắt người đui; Chúa Hằng Hữu đỡ dậy những kẻ cong khom; Chúa Hằng Hữu yêu mến người công chính.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu che chở khách ngoại kiều trong xứ; Ngài nâng đỡ kẻ mồ côi và góa phụ, nhưng Ngài chống lại kẻ ác.
\s5
\v 10 Hỡi Si-ôn, Thiên Chúa Hằng Hữu ngươi sẽ cai trị đời đời, trải suốt mọi thế hệ. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 147
\p
\v 1 Hãy ngợi khen Chúa Hằng Hữu, vì hát ca ngợi Thiên Chúa chúng ta là việc tốt, thật vui thích, và hợp lẽ.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu tái thiết Giê-ru-sa-lem, Ngài tập hợp con dân Y-sơ-ra-ên đang lưu lạc.
\s5
\v 3 Ngài chữa lành những tấm lòng tan vỡ và băng bó vết thương của họ.
\s5
\v 4 Ngài đếm số các ngôi sao, Ngài đặt tên cho hết thảy chúng nó.
\s5
\v 5 Vĩ đại thay Chúa của chúng ta, quyền năng Ngài thật đáng sợ, sự hiểu biết Ngài không dò được.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu nâng đỡ người bị áp bức, nhưng Ngài hạ kẻ ác xuống.
\s5
\v 7 Hãy hát cho Chúa Hằng Hữu kèm theo lời cảm tạ, hãy dùng đàn hạc hát ca ngợi Thiên Chúa chúng ta.
\s5
\v 8 Ngài dùng mây che phủ các tầng trời và sắm sửa mưa cho trái đất, khiến cỏ mọc trên núi đồi.
\s5
\v 9 Chúa ban thức ăn cho thú vật cũng như cho quạ con khi chúng kêu la.
\s5
\v 10 Chúa không tìm vui trong sức mạnh của loài ngựa, Ngài chẳng hài lòng về đôi chân khỏe của người ta.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu hài lòng về những kẻ biết tôn kính Ngài, đặt hy vọng nơi lòng thành tín về giao ước Ngài.
\s5
\v 12 Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu; hỡi Si-ôn, hãy ngợi khen Thiên Chúa ngươi.
\s5
\v 13 Vì Ngài làm vững chắc các then cửa ngươi, Ngài ban phước cho con cái ở giữa ngươi.
\s5
\v 14 Ngài đem sự thạnh vượng đến trong xứ ngươi, Ngài cho ngươi no đủ bằng lúa mì hảo hạng.
\s5
\v 15 Ngài ban lệnh cho đất, lệnh Ngài được truyền đi tức khắc.
\s5
\v 16 Chúa làm ra tuyết trắng như lông chiên, Ngài rải sương giá khác nào tro bụi.
\s5
\v 17 Chúa đổ mưa đá xuống như vụn bánh, ai có thể chịu nổi giá lạnh Ngài giáng xuống?
\s5
\v 18 Ngài ra lệnh làm chúng tan đi, Ngài khiến gió thổi và có nước chảy.
\s5
\v 19 Ngài công bố lời Ngài cho Gia-cốp, các luật lệ cùng các sắc lệnh công chính Ngài cho Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 20 Ngài không làm vậy với dân tộc nào khác, nên các sắc lệnh Ngài họ chẳng biết. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 148
\p
\v 1 Hãy ngợi khen Chúa Hằng Hữu. Trên các tầng trời, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu; trên các nơi cao, hãy ca ngợi Ngài.
\s5
\v 2 Hỡi toàn thể các thiên sứ Ngài, hãy ca ngợi Ngài; hỡi tất cả các đoàn thiên binh của Chúa, hãy ca ngợi Ngài.
\s5
\v 3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy ca ngợi Ngài; hỡi mọi vì sao sáng, hãy ca ngợi Ngài.
\s5
\v 4 Hỡi tầng trời cao nhất, cùng với nước bên trên bầu trời, hãy ca ngợi Ngài.
\s5
\v 5 Nguyện tất cả đều ca ngợi danh Chúa Hằng Hữu, vì Ngài ra lệnh thì chúng được tạo thành.
\s5
\v 6 Ngài cũng đã lập chúng vững bền đời đời, mãi mãi; Ngài ban hành một sắc lệnh chẳng bao giờ thay đổi.
\s5
\v 7 Từ trái đất, tất cả hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, nào là các sinh vật biển cùng mọi vực thẳm của đại dương;
\s5
\v 8 lửa cùng mưa đá, tuyết và mây, cùng gió bão thi hành lời Ngài phán;
\s5
\v 9 các núi và tất cả các ngọn đồi, cây ăn trái cùng mọi cây bá hương;
\s5
\v 10 thú hoang cùng gia súc, côn trùng cùng chim chóc;
\s5
\v 11 các vua trên đất cùng mọi dân tộc, các quan tướng cùng mọi kẻ cai trị trên đất;
\s5
\v 12 thanh niên lẫn thiếu nữ, người cao tuổi lẫn trẻ em.
\s5
\v 13 Nguyện tất cả đều ca ngợi danh Chúa Hằng Hữu, vì chỉ danh Ngài được tôn cao và vinh quang Ngài trải khắp đất cũng như các tầng trời.
\s5
\v 14 Chúa đã nhấc cái sừng của dân Ngài lên để nhận được sự ca ngợi từ mọi kẻ tín trung của Ngài, tức người Y-sơ-ra-ên, là dân gần gũi với Ngài. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 149
\p
\v 1 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Hãy hát cho Chúa Hằng Hữu một bài ca mới; hãy hát ca ngợi Ngài giữa hội người trung tín.
\s5
\v 2 Nguyện Y-sơ-ra-ên hoan hỷ nơi Đấng đã khiến mình thành một dân; nguyện dân chúng Si-ôn vui mừng nơi vua mình.
\s5
\v 3 Nguyện họ nhảy múa ca ngợi danh Ngài; nguyện họ dùng trống lắc cùng đàn hạc mà hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 4 Vì Chúa Hằng Hữu vui thích dân Ngài; Ngài lấy sự cứu rỗi tôn vinh kẻ khiêm cung.
\s5
\v 5 Nguyện những người tin kính Chúa hoan hỉ về chiến thắng; nguyện họ hoan ca trên giường mình.
\s5
\v 6 Nguyện lời ca ngợi Chúa ở trên môi miệng họ, và thanh gươm hai lưỡi ở trên tay họ
\s5
\v 7 để thi hành sự báo thù trên các nước, sự hình phạt trên các dân.
\s5
\v 8 Họ sẽ dùng xích mà trói các vua chúng nó, dùng cùm mà xiềng giới quyền quý của chúng nó.
\s5
\v 9 Họ sẽ thi hành án phạt đã chép. Đó sẽ là niềm vinh dự cho mọi kẻ trung tín. Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 15
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, ai được ở trong đền tạm của Chúa? Ai được sống trên núi thánh của Ngài?
\s5
\v 2 Đó là người sống cách vẹn toàn, làm điều chính đáng, và nói thật từ lòng mình.
\s5
\v 3 Người không dùng lưỡi mình nói hành, chẳng gây tổn hại cho ai, cũng không lăng nhục kẻ khác.
\s5
\v 4 Mắt người khinh bỉ kẻ chẳng ra gì, nhưng lại tôn trọng những người kính sợ Chúa Hằng Hữu. Người thề hứa và sẵn sàng chịu thiệt mà không nuốt lời.
\s5
\v 5 Người cho vay không tính lãi, không nhận của hối lộ để cáo gian kẻ vô tội. Người nào thực hành những điều này sẽ không bao giờ bị rúng động.
\s5
\c 150
\p
\v 1 Hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Hãy ca ngợi Thiên Chúa trong nơi thánh Ngài; hãy ca ngợi Chúa trên các tầng trời hùng vĩ.
\s5
\v 2 Hãy ca ngợi Chúa vì các việc quyền năng Ngài; hãy ca ngợi Chúa về sự vĩ đại trổi vượt của Ngài.
\s5
\v 3 Hãy dùng tiếng kèn mà ca ngợi Chúa; hãy dùng đàn luýt cùng đàn hạc mà ca ngợi Ngài.
\s5
\v 4 Hãy dùng trống lắc và nhảy múa mà ca ngợi Chúa; hãy dùng nhạc khí bằng dây cùng nhạc khí bằng hơi mà ca ngợi Ngài.
\s5
\v 5 Hãy dùng chập chỏa dội tiếng mà ca ngợi Ngài; hãy dùng chập chỏa vang rền mà ca ngợi Ngài.
\s5
\v 6 Nguyện mọi vật có hơi thở ca ngợi Chúa Hằng Hữu. Hãy ngợi khen Chúa Hằng Hữu.
\s5
\c 16
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin bảo vệ con, vì con nương náu nơi Ngài.
\s5
\v 2 Con thưa với Chúa Hằng Hữu: “Ngài là Chúa của con; ngoài Ngài con chẳng có điều gì tốt đẹp.
\s5
\v 3 Về phần những thánh nhân trên đất, họ là những con người cao quý; trọn niềm vui thích của con ở nơi họ.
\s5
\v 4 Nỗi phiền muộn của những kẻ tìm kiếm các thần khác sẽ nhiều thêm. Con sẽ không dâng lễ quán bằng huyết cho các thần chúng nó, hay xưng tụng danh của chúng trên môi mình.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài là phần con đã chọn, và là chén của con. Ngài nắm giữ số mạng con.
\s5
\v 6 Dây mực đã đánh dấu phần dành cho con trong những nơi phước hạnh; cơ nghiệp tốt lành chắc chắn thuộc về con.
\s5
\v 7 Con sẽ chúc tụng Chúa Hằng Hữu, Đấng khuyên bảo con; thậm chí vào ban đêm tâm trí con cũng chỉ dạy con.
\s5
\v 8 Con luôn để Chúa Hằng Hữu trước mặt con, để con không bị rúng động bên hữu Ngài.
\s5
\v 9 Vậy nên lòng con vui sướng; tâm con tôn cao Ngài; con hẳn sẽ được sống bình an.
\s5
\v 10 Vì Chúa sẽ không bỏ linh hồn con dưới âm phủ. Ngài sẽ không để kẻ trung tín với Ngài nhìn thấy mộ huyệt.
\s5
\v 11 Ngài dạy cho con đường sự sống; trước mặt Ngài có niềm vui tràn đầy; trong tay phải Ngài có niềm vui sướng đời đời."
\s5
\c 17
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin bênh vực lẽ công bằng cho con; xin lưu ý lời con kêu cứu! Xin Chúa nghe lời cầu nguyện con, xuất phát từ miệng lưỡi không gian dối.
\s5
\v 2 Nguyện con được minh oan trước mặt Ngài; xin mắt Chúa xem xét đâu là lẽ chánh!
\s5
\v 3 Nếu Chúa tra xét lòng con, nếu Ngài đến với con lúc ban đêm, thì Ngài sẽ thanh tẩy con và chẳng thấy mưu ác nào; miệng con sẽ không phạm tội.
\s5
\v 4 Về phần các việc làm của loài người, ấy là nhờ lời của miệng Ngài mà con giữ mình khỏi đường lối của kẻ hư đốn.
\s5
\v 5 Các bước con bám sát đường lối Chúa; chân con không trượt ngã.
\s5
\v 6 Lạy Thiên Chúa, con kêu cầu Ngài, vì Ngài đáp lời con; xin nghiêng tai qua và lắng nghe khi con nói.
\s5
\v 7 Lạy Đấng dùng tay phải mình cứu những kẻ nương náu nơi Ngài khỏi quân thù, xin tỏ lòng thành tín về giao ước Ngài một cách diệu kỳ.
\s5
\v 8 Xin bảo vệ con như con ngươi của mắt Ngài; xin giấu con dưới bóng cánh Ngài,
\s5
\v 9 khuất mặt những kẻ gian ác hãm hại con, khỏi kẻ thù vây bọc con.
\s5
\v 10 Chúng chẳng xót thương ai; miệng chúng nói lời kiêu căng.
\s5
\v 11 Chúng vây lấy các bước con. Chúng tìm phương đánh ngã con.
\s5
\v 12 Chúng giống sư tử háu mồi, như sư tử tơ rình rập nơi nẻo khuất.
\s5
\v 13 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin trỗi dậy tấn công chúng! Xin hãy khiến chúng phải ngã nhào! Xin Ngài dùng gươm giải cứu mạng sống con khỏi kẻ ác.
\s5
\v 14 Ôi Chúa Hằng Hữu, xin dùng tay Ngài giải cứu con khỏi người trần, là những kẻ chỉ hưng vượng trong đời này mà thôi! Ngài sẽ dùng sự giàu có mà làm no dạ những kẻ Ngài quý trọng; họ sẽ được nhiều con cái và để lại tài sản cho các con mình.
\s5
\v 15 Riêng con, con sẽ nhìn thấy mặt Ngài trong sự công chính; khi thức giấc, con sẽ thỏa nguyện vì được thấy Ngài.
\s5
\c 18
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, sức lực của con, con yêu mến Ngài.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu là vầng đá tôi, thành lũy của tôi, Đấng đem tôi đến nơi an toàn; Ngài là Thiên Chúa của tôi, là vầng đá tôi; tôi nương náu nơi Ngài. Chúa là thuẫn che tôi, là sừng cứu rỗi của tôi, và là đồn lũy tôi.
\s5
\v 3 Tôi kêu cầu Chúa Hằng Hữu, là Đấng đáng được ca ngợi, và tôi sẽ được cứu khỏi các kẻ thù mình.
\s5
\v 4 Dây sự chết quấn lấy tôi, những kẻ chẳng ra gì ập trên tôi như các dòng nước.
\s5
\v 5 Dây âm phủ giăng bủa quanh tôi; bẫy sự chết bắt lấy tôi.
\s5
\v 6 Trong cơn hiểm nguy, tôi kêu cầu Chúa Hằng Hữu; tôi kêu cứu Thiên Chúa mình. Từ nơi đền Ngài, Chúa nghe tiếng tôi; tiếng kêu cầu tôi thấu đến trước mặt Ngài; thấu đến tai Ngài.
\s5
\v 7 Rồi đất rung chuyển và rúng động; nền các núi cũng rúng động, rung chuyển vì Thiên Chúa nổi giận.
\s5
\v 8 Khói bay lên từ lỗ mũi Ngài, lửa hừng phát ra từ miệng Ngài, khiến than phát cháy.
\s5
\v 9 Ngài vén các tầng trời và ngự xuống, dưới chân Ngài là bóng tối dày đặc.
\s5
\v 10 Ngài cưỡi Chê-ru-bim và bay; Ngài lượn trên cánh gió.
\s5
\v 11 Ngài biến bóng tối, là mây đen trên trời, thành chiếc lều bao quanh Ngài.
\s5
\v 12 Từ chớp nhoáng phát ra trước mặt Ngài, mưa đá và than lửa đỏ đổ xuống.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu phát sấm sét trên các từng trời! Đấng Chí Cao cất tiếng vang rền.
\s5
\v 14 Ngài bắn tên và làm tan tác các kẻ thù mình; nhiều tia chớp khiến chúng phải tán loạn.
\s5
\v 15 Lúc đó, lạy Chúa Hằng Hữu, trước lời khiển trách của Ngài, bởi hơi thở từ lỗ mũi Ngài, đáy biển xuất hiện; nền móng thế giới phơi bày ra.
\s5
\v 16 Từ trên cao, Chúa đưa tay ra nắm lấy tôi! Ngài kéo tôi ra khỏi chỗ nước dâng tràn.
\s5
\v 17 Ngài cứu tôi khỏi kẻ thù mạnh sức, khỏi những kẻ ghét tôi, vì chúng quá mạnh đối với tôi.
\s5
\v 18 Chúng xông đánh tôi trong ngày gian truân, nhưng Chúa Hằng Hữu nâng đỡ tôi!
\s5
\v 19 Chúa giải phóng tôi ra nơi rộng rãi; Ngài cứu tôi vì Ngài hài lòng về tôi.
\s5
\v 20 Chúa Hằng Hữu đã ban thưởng cho tôi vì tôi công chính; Ngài phục hồi tôi vì tay tôi thanh sạch.
\s5
\v 21 Vì tôi đã gìn giữ các đường lối của Chúa Hằng Hữu và không làm ác mà quay lưng lại với Thiên Chúa mình.
\s5
\v 22 Vì tất cả các sắc lệnh công bình của Chúa đều ở trước mặt tôi; còn các luật lệ Ngài tôi không xây bỏ.
\s5
\v 23 Tôi cũng vô tội trước mặt Ngài và tự giữ mình khỏi phạm tội.
\s5
\v 24 Vì vậy, Chúa Hằng Hữu đã phục hồi tôi vì sự công chính của tôi, vì tay tôi thanh sạch trước mắt Ngài.
\s5
\v 25 Với người trung tín, Chúa tỏ mình là thành tín; với người trọn vẹn, Ngài cũng tỏ mình là trọn vẹn.
\s5
\v 26 Với người thanh sạch, Chúa tỏ ra Ngài là thanh sạch; nhưng Ngài khôn khéo đối với kẻ đồi bại.
\s5
\v 27 Vì Chúa cứu người khốn cùng, nhưng đánh hạ kẻ có mắt kiêu ngạo, vênh váo.
\s5
\v 28 Vì Chúa ban ánh sáng cho đèn con; Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của con thắp sáng chốn tối tăm con.
\s5
\v 29 Vì nhờ Chúa, con có thể vượt qua chướng ngại; nhờ Thiên Chúa của con, con có thể nhảy qua bức tường thành.
\s5
\v 30 Về phần Thiên Chúa: đường lối Ngài là trọn vẹn. Lời của Chúa Hằng Hữu là thanh sạch! Ngài là thuẫn che cho mọi người nương náu nơi Ngài.
\s5
\v 31 Vì ngoài Chúa Hằng Hữu ra, còn ai là Thiên Chúa? Ngoài Thiên Chúa chúng tôi, thì ai là vầng đá?
\s5
\v 32 Thiên Chúa là Đấng đặt để người vẹn toàn trong đường lối Ngài, chính Ngài nai nịt tôi bằng sức mạnh.
\s5
\v 33 Ngài khiến chân tôi nhanh nhẹn như con nai và đặt tôi trên các núi đồi.
\s5
\v 34 Ngài luyện bàn tay tôi chiến đấu, luyện cánh tay tôi giương cung đồng.
\s5
\v 35 Chúa đã ban cho con thuẫn cứu rỗi của Ngài. Tay phải Ngài nâng đỡ con, và ơn Ngài khiến cho con nên vĩ đại.
\s5
\v 36 Chúa sửa soạn cho bàn chân con chỗ rộng rãi, để chân con khỏi trượt ngã.
\s5
\v 37 Con đuổi theo quân thù và bắt kịp chúng; mãi đến khi chúng bị diệt sạch con mới quay về.
\s5
\v 38 Con đập tan chúng, khiến chúng không thể trỗi dậy; chúng ngã rạp dưới chân con.
\s5
\v 39 Vì Chúa lấy năng lực nai nịt cho con xung trận; Ngài khiến những kẻ nổi lên chống lại con phải quy phục con.
\s5
\v 40 Ngài giúp con tóm gáy kẻ thù con; con diệt sạch những kẻ thù ghét con.
\s5
\v 41 Chúng cầu cứu, nhưng chẳng ai đến cứu; chúng kêu cầu Chúa Hằng Hữu, nhưng Ngài không đáp lời.
\s5
\v 42 Con nghiền nát chúng như bụi trước gió; con ném chúng ra như bùn đất ngoài đường.
\s5
\v 43 Chúa giải cứu con khỏi những sự tranh chấp. Ngài khiến con làm đầu các dân. Những người con không biết sẽ phục vụ con.
\s5
\v 44 Vừa nghe đến con họ liền vâng lệnh; người ngoại quốc buộc phải quy phục con.
\s5
\v 45 Người ngoại quốc run sợ đi ra khỏi đồn lũy mình.
\s5
\v 46 Chúa Hằng Hữu vẫn sống; nguyện vầng đá của con được ca ngợi. Nguyện Thiên Chúa của sự cứu rỗi con được tôn cao.
\s5
\v 47 Đây chính là Thiên Chúa báo oán cho con, Đấng khiến các dân quy phục con.
\s5
\v 48 Con được giải thoát khỏi các kẻ thù mình! Thật, Ngài đã đưa con lên cao hơn những kẻ nổi dậy chống lại con! Chính Chúa giải cứu con khỏi những người hung bạo.
\s5
\v 49 Vậy nên con sẽ cảm tạ Chúa, là Chúa Hằng Hữu, giữa các dân; con sẽ hát chúc tụng danh Ngài!
\s5
\v 50 Thiên Chúa khiến vua Ngài được đại thắng, và Ngài tỏ lòng thành tín về giao ước cho người được xức dầu của Ngài, tức là cho Đa-vít, và cho dòng dõi người, đến muôn đời.
\s5
\c 19
\p
\v 1 Các tầng trời loan truyền vinh quang của Thiên Chúa, bầu trời bày tỏ công trình của Ngài.
\s5
\v 2 Ngày này qua ngày khác, chúng cứ lên tiếng; đêm này đến đêm nọ, chúng mặc khải tri thức.
\s5
\v 3 Chẳng có tiếng nói hay lời phát ra; chẳng ai nghe được tiếng chúng.
\s5
\v 4 Nhưng lời chúng vang ra khắp đất, điều chúng nói lên vọng đến tận cùng thế giới.
\s5
\v 5 Mặt trời giống như tân lang rời khỏi loan phòng, giống như người lực sĩ hân hoan tham dự cuộc đua.
\s5
\v 6 Mặt trời mọc lên từ chân trời này rồi băng ngang bầu trời để đến chân trời kia; chẳng gì tránh được sức nóng của nó.
\s5
\v 7 Luật pháp của Chúa Hằng Hữu là toàn hảo, hồi sinh linh hồn; lời chứng của Chúa Hằng Hữu đáng tin cậy, biến người chân chất nên khôn ngoan.
\s5
\v 8 Những huấn thị của Chúa Hằng Hữu đều đún đắn, làm cho lòng vui mừng; điều răn của Chúa Hằng Hữu là thuần khiết, khiến mắt được sáng.
\s5
\v 9 Sự kính sợ Chúa Hằng Hữu là thanh sạch, hằng còn mãi mãi; các sắc lệnh của Chúa Hằng Hữu là chân thật, đều công bình cả!
\s5
\v 10 Chúng quý giá hơn vàng, thậm chí quý hơn vàng ròng; chúng ngọt hơn mật, hơn cả mật từ tàng ong nhỏ xuống.
\s5
\v 11 Thật, bởi chúng mà tôi tớ Ngài được cảnh báo; người nào vâng theo đều được lợi ích lớn.
\s5
\v 12 Ai biết hết được mọi sai phạm của mình? Xin Chúa thanh tẩy con khỏi những lỗi lầm kín giấu.
\s5
\v 13 Cũng xin Chúa giữ cho tôi tớ Ngài khỏi các tội kiêu căng; nguyện các tội ấy không cai trị con. Thì con sẽ trọn lành, và vô tội về nhiều sự vi phạm.
\s5
\v 14 Lạy Chúa Hằng Hữu, là vầng đá và Đấng cứu chuộc con, nguyện lời nói của miệng con, ý tưởng của lòng con được chấp nhận trong mắt Ngài.
\s5
\c 2
\p
\v 1 Vì sao các nước nổi loạn, và các dân mưu tính vô ích?
\s5
\v 2 Các vua trên đất liên minh lại và giới cầm quyền cùng nhau cấu kết chống lại Chúa Hằng Hữu và Đấng Mê-si-a của Ngài, rằng:
\s5
\v 3 “Chúng ta hãy bứt đứt gông cùm họ đã đeo cho chúng ta, và quăng bỏ xiềng xích họ đi.”
\s5
\v 4 Đấng ngự trên trời sẽ cười nhạo chúng; Chúa sẽ chế giễu chúng.
\s5
\v 5 Rồi Ngài sẽ nổi giận mà phán với chúng, nổi thịnh nộ khiến chúng kinh hãi, mà rằng:
\s5
\v 6 “Chính Ta đã xức dầu lập vua Ta trên Si-ôn, núi thánh Ta.”
\s5
\v 7 Tôi sẽ công bố sắc lệnh của Chúa Hằng Hữu. Ngài phán với Tôi: “Con là con Ta! Ngày nay Ta đã trở thành Cha của Con.
\s5
\v 8 Hãy cầu xin Ta, rồi Ta sẽ ban các nước cho Con làm cơ nghiệp và các xứ tận cùng cõi đất làm tài sản.
\s5
\v 9 Con sẽ đánh vỡ chúng bằng vương trượng sắt; Con sẽ đập nát chúng như bình gốm.”
\s5
\v 10 Vậy nên, hỡi các vua, hãy coi chừng; hỡi những người cai trị trên đất, hãy sửa chữa đi.
\s5
\v 11 Hãy lấy lòng kính sợ mà thờ phượng Chúa Hằng Hữu và vui mừng trong sự run rẩy.
\s5
\v 12 Hãy hôn Con, nếu không Ngài sẽ nổi giận với các ngươi, và các ngươi sẽ chết ngay trên đường khi cơn giận Ngài bùng lên chỉ trong chốc lát. Phước cho những ai tìm được nơi trú ẩn trong Ngài.
\s5
\c 20
\p
\v 1 Nguyện Chúa Hằng Hữu giúp đỡ người trong ngày hoạn nạn; nguyện danh Thiên Chúa của Gia-cốp bảo vệ người
\s5
\v 2 và từ nơi thánh Ngài ban sự cứu giúp để nâng đỡ người từ Si-ôn.
\s5
\v 3 Nguyện Ngài nhớ lại mọi lễ vật người dâng và nhậm của lễ thiêu của người. Sê-la
\s5
\v 4 Nguyện Ngài ban cho người điều lòng mình ao ước và làm thành mọi chương trình của người.
\s5
\v 5 Lúc đó chúng tôi sẽ hoan hỉ về chiến thắng của người, và nhân danh Thiên Chúa chúng ta, chúng tôi sẽ giương cao ngọn cờ. Nguyện Chúa Hằng Hữu ban cho người mọi điều người cầu xin.
\s5
\v 6 Giờ đây, tôi biết rằng Chúa Hằng Hữu sẽ giải cứu người được xức dầu của Ngài; từ trời thánh, Ngài sẽ đáp lời người bằng sức mạnh của tay phải Ngài, vốn có quyền giải cứu người.
\s5
\v 7 Người này cậy xe, kẻ khác cậy ngựa, nhưng chúng tôi kêu cầu Thiên Chúa, là Chúa Hằng Hữu của chúng tôi.
\s5
\v 8 Họ sẽ bị đánh hạ và sụp đổ, còn chúng tôi sẽ vươn lên và đứng thẳng!
\s5
\v 9 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy giải cứu vua; xin Chúa giúp chúng con khi chúng con kêu cầu.
\s5
\c 21
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, vua vui mừng trong sức lực của Ngài! Người hân hoan biết bao trong sự cứu rỗi Ngài chu cấp!
\s5
\v 2 Ngài đã ban cho người điều lòng người ao ước, và không từ chối lời cầu xin của môi miệng người. Sê-la
\s5
\v 3 Vì Chúa ban cho người ơn phước dồi dào; Ngài đội lên đầu người mão triều bằng vàng tinh ròng.
\s5
\v 4 Người xin Ngài sự sống, thì Ngài ban cho; Ngài cho ngày người dài đến vô tận.
\s5
\v 5 Nhờ chiến thắng Chúa ban, người được vinh quang lớn; Ngài phú cho người sự sang trọng, oai nghi.
\s5
\v 6 Vì Chúa ban cho người ơn phước dài lâu; Ngài khiến người hân hoan với niềm vui sướng về sự hiện diện của Ngài.
\s5
\v 7 Vì vua tin cậy Chúa Hằng Hữu; nhờ lòng thành tín về giao ước của Đấng Chí Cao mà người sẽ không bị dời chuyển.
\s5
\v 8 Tay Chúa sẽ tóm hết mọi kẻ thù Ngài; tay phải Ngài sẽ bắt những kẻ ghét Ngài.
\s5
\v 9 Khi Chúa nổi giận, Ngài sẽ đốt cháy chúng như trong lò lửa hực. Chúa Hằng Hữu sẽ thiêu đốt chúng giữa cơn thạnh nộ Ngài, và lửa sẽ nuốt chửng chúng nó.
\s5
\v 10 Chúa sẽ diệt sạch dòng dõi chúng khỏi mặt đất, và con cháu chúng nó khỏi giữa loài người.
\s5
\v 11 Vì chúng toan tính việc ác chống lại Ngài; chúng lập mưu, nhưng mưu định chẳng thành!
\s5
\v 12 Vì Chúa sẽ khiến chúng phải quay lui; Ngài sẽ giương cung nhắm vào mặt chúng.
\s5
\v 13 Lạy Chúa Hằng Hữu, nguyện Ngài được tôn cao nhờ sức lực Ngài; chúng con sẽ hát ca ngợi quyền năng Ngài.
\s5
\c 22
\p
\v 1 Thiên Chúa của con, Thiên Chúa của con ôi, sao Ngài lại bỏ con? Sao Ngài ở cách xa, không chịu cứu con, không nghe lời thống khổ của con?
\s5
\v 2 Lạy Thiên Chúa của con, con kêu van lúc ban ngày, song Ngài chẳng đáp lời, nên ban đêm con vẫn không nín lặng!
\s5
\v 3 Nhưng Ngài là thánh; Ngài ngự trị giữa sự ca ngợi của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 4 Các tổ phụ chúng con đã tin cậy Ngài; họ tin cậy Ngài, và Ngài đã giải cứu họ.
\s5
\v 5 Họ kêu cầu Ngài, và được cứu. Họ tin cậy Ngài và chẳng bị thất vọng.
\s5
\v 6 Nhưng con chỉ là con sâu, chẳng phải con người, bị loài người ghét bỏ, bị kẻ khác khinh khi.
\s5
\v 7 Mọi người nhìn thấy con đều nhạo cười; họ chế giễu con; họ lắc đầu nhìn con.
\s5
\v 8 Họ bảo: “Nó tin cậy Chúa Hằng Hữu; cứ để Chúa Hằng Hữu giải cứu hắn. Hãy để Ngài cứu hắn, vì Ngài thích hắn.”
\s5
\v 9 Vì Chúa đã đem con ra khỏi lòng mẹ; Ngài khiến con biết tin cậy Ngài khi con nằm trên ngực mẹ con.
\s5
\v 10 Từ trong tử cung, con đã được giao cho Chúa; Ngài là Thiên Chúa của con từ khi con còn ở trong lòng mẹ.
\s5
\v 11 Xin đừng rời xa con, vì nguy nan đã cận kề; chẳng có ai giúp đỡ con.
\s5
\v 12 Có nhiều bò đực vây quanh con; những con bò đực mạnh mẽ của Ba-san vây lấy con.
\s5
\v 13 Chúng há to mồm tấn công con chẳng khác nào sư tử gầm thét cắn xé mồi.
\s5
\v 14 Con bị đổ ra như người ta đổ nước, mọi xương cốt con đều sái khớp. Tim con giống như sáp: nó tan chảy trong mình con.
\s5
\v 15 Sức lực con khô lại như mảnh gốm; lưỡi con dính vào vòm họng. Chúa đã đặt con trong tro bụi sự chết.
\s5
\v 16 Vì lũ chó đã bủa vây con; một đám ác nhân đã bao quanh con; chúng đâm thủng tay chân con.
\s5
\v 17 Con đếm được mọi xương cốt mình. Chúng nhìn chằm chằm vào con.
\s5
\v 18 Chúng chia nhau đồ con mặc; chúng rút thăm lấy trang phục con.
\s5
\v 19 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng lìa xa con; Chúa là sức lực con, xin mau mau cứu giúp con!
\s5
\v 20 Xin giải cứu linh hồn con khỏi lưỡi gươm, giải cứu mạng sống duy nhất của con khỏi móng vuốt của loài chó hoang.
\s5
\v 21 Xin Chúa cứu con khỏi mồm sư tử; xin giải cứu con khỏi sừng bò rừng.
\s5
\v 22 Con sẽ công bố danh Chúa cho anh em con; giữa hội chúng con sẽ ca ngợi Ngài.
\s5
\v 23 Hỡi những người kính sợ Chúa Hằng Hữu, hãy ca ngợi Ngài! Tất cả con cháu của Gia-cốp, hãy tôn kính Ngài. Hỡi con cháu của Y-sơ-ra-ên, hãy ngưỡng vọng Ngài!
\s5
\v 24 Vì Ngài không khinh khi hay ghê tởm nỗi đau của người khốn cùng; Chúa Hằng Hữu không ẩn mặt với người; khi kẻ khốn cùng kêu cầu Ngài thì Ngài nghe.
\s5
\v 25 Vì cớ Chúa, con sẽ ca ngợi giữa hội lớn; con sẽ thực hiện các lời hứa nguyện mình trước những kẻ kính sợ Chúa.
\s5
\v 26 Kẻ khốn cùng sẽ ăn và no nê; người tìm kiếm Chúa Hằng Hữu sẽ chúc tụng Ngài. Nguyện lòng các người cứ sống mãi.
\s5
\v 27 Mọi dân trên đất sẽ nhớ lại và quay về với Chúa Hằng Hữu; tất cả dòng tộc trong các dân sẽ cúi mình xuống trước Ngài.
\s5
\v 28 Vì vương quốc thuộc về Chúa Hằng Hữu; Ngài cai trị các dân.
\s5
\v 29 Mọi kẻ thịnh vượng trên đất sẽ ăn uống và thờ phượng; tất cả những người đang trở về với cát bụi, tức những kẻ không thể bảo tồn mạng sống mình, sẽ cúi mình xuống trước Ngài.
\s5
\v 30 Một thế hệ sau này sẽ phục vụ Ngài; họ sẽ kể cho thế hệ tiếp nối về Chúa.
\s5
\v 31 Họ sẽ đến và nói về đức công bình của Ngài; họ sẽ thuật cho dân tộc sắp sinh ra những việc Ngài đã làm!
\s5
\c 23
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu là Đấng chăn dắt con; con sẽ không thiếu gì cả.
\s5
\v 2 Ngài khiến con nằm nghỉ trong đồng cỏ xanh; Ngài dẫn con đến bên dòng nước yên tịnh
\s5
\v 3 Ngài phục hồi sự sống của con; Ngài đưa dắt con theo đường lối chính đáng, vì danh của Ngài.
\s5
\v 4 Cho dù con có đi qua thung lũng phủ bóng đen kịt, con sẽ không sợ bị hại vì có Chúa ở cùng; cây gậy và cây trượng của Chúa yên ủi con.
\s5
\v 5 Chúa sửa soạn bữa ăn cho con trước mặt kẻ thù con; Ngài xức dầu trên đầu con; chén con đầy tràn.
\s5
\v 6 Trọn những ngày của cuộc đời con, chắc chắn ơn lành và sự thành tín sẽ theo con; và con sẽ sống trong nhà của Chúa Hằng Hữu cho đến lâu dài!
\s5
\c 24
\p
\v 1 Đất và mọi vật trên đất, thế gian cùng mọi người sống trong đó, đều thuộc về Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Ngài đã đặt nền nó trên các biển và khiến nó đứng vững trên các dòng sông.
\s5
\v 3 Ai sẽ lên núi của Chúa Hằng Hữu? Ai sẽ đứng trong nơi thánh Ngài?
\s5
\v 4 Đó là người có đôi bàn tay trong sạch và trái tim thuần khiết; kẻ không đề cao sự giả dối và không thề thốt để đánh lừa người khác.
\s5
\v 5 Người ấy sẽ được hưởng phước của Chúa Hằng Hữu, được sự công bình từ Thiên Chúa của sự cứu rỗi mình.
\s5
\v 6 Con cháu của những kẻ tìm kiếm Chúa, tức những kẻ tìm kiếm tôn nhan Thiên Chúa của Gia-cốp, sẽ được như vậy. Sê-la
\s5
\v 7 Hỡi các cổng, hãy ngẩng đầu lên; hỡi các cửa đời đời, hãy cất cao lên, để Vua vinh quang ngự vào!
\s5
\v 8 Vua vinh quang này là ai? Đó chính là Chúa Hằng Hữu, mạnh mẽ và quyền năng; là Chúa Hằng Hữu hùng mạnh trong chiến trận.
\s5
\v 9 Hỡi các cổng, hãy ngẩng đầu lên; hỡi các cửa đời đời, hãy cất cao lên, để Vua vinh quang ngự vào!
\s5
\v 10 Vua vinh quang này là ai? Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, chính Ngài là Vua vinh quang. Sê-la
\s5
\c 25
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài là Đấng con trao dâng đời sống!
\s5
\v 2 Lạy Thiên Chúa con, con tin cậy Ngài. Xin đừng để con bị sỉ nhục; xin đừng để các kẻ thù nghịch con vui mừng đắc thắng về con!.
\s5
\v 3 Nguyện cho không một người nào hy vọng nơi Ngài bị coi thường; nguyện cho kẻ hành động thiếu trung thực bị hổ thẹn!
\s5
\v 4 Chúa Hằng Hữu ôi, xin tỏ cho con biết các đường lối Ngài; xin chỉ dạy con các nẻo đường Ngài.
\s5
\v 5 Xin dẫn con vào chân lý Ngài và dạy dỗ con, vì Ngài chính là Thiên Chúa của sự cứu rỗi con; trọn cả ngày con hy vọng nơi Ngài.
\s5
\v 6 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin nhớ lại các hành động thương xót và thành tín của Ngài; vì chúng hằng còn.
\s5
\v 7 Xin Chúa đừng nhớ đến các tội con phạm thời trai trẻ, cùng sự bội nghịch của con; lạy Chúa Hằng Hữu, xin vì lòng nhân từ Ngài và bởi đức thành tín mà nhớ lại con,
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu là thiện và ngay thẳng; vì vậy, Ngài chỉ dạy con đường cho tội nhân.
\s5
\v 9 Ngài dẫn dắt người khiêm nhường vào sự ngay thẳng, và dạy họ đường lối Ngài
\s5
\v 10 Mọi đường lối của Chúa Hằng Hữu đều xuất phát từ tình yêu vững bền và sự thành tín đối với người nào gìn giữ giao ước và các mạng lệnh của Ngài.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu ôi, vì danh Ngài, xin tha thứ tội lỗi con, vì nó lớn lắm.
\s5
\v 12 Ai là kẻ kính sợ Chúa Hằng Hữu? Chúa sẽ chỉ dạy người con đường mình phải chọn.
\s5
\v 13 Người sẽ được sống trong ơn lành; con cháu người sẽ được thừa hưởng đất.
\s5
\v 14 Chúa Hằng Hữu kết bạn với người tôn kính Ngài, và Ngài tỏ cho họ biết giao ước Ngài.
\s5
\v 15 Mắt con luôn trông đợi Chúa Hằng Hữu, vì Ngài sẽ giải phóng chân con khỏi bẫy lưới.
\s5
\v 16 Xin Chúa hãy đoái xem con và thương xót con; vì con đơn độc và khốn khổ.
\s5
\v 17 Các nỗi âu lo của lòng con đã tăng thêm; xin Chúa kéo con ra khỏi tình trạng khốn cùng!
\s5
\v 18 Nguyện Chúa thấy sự hoạn nạn và các nỗi nhọc nhằn của con; xin tha tội cho con.
\s5
\v 19 Nguyện Chúa thấy các kẻ thù nghịch con, vì chúng đông; chúng thù ghét con cách ác nghiệt.
\s5
\v 20 Xin bảo vệ mạng sống con và giải cứu con; xin đừng để con bị sỉ nhục, vì con nương náu nơi Ngài!
\s5
\v 21 Nguyện sự thanh liêm và chính trực gìn giữ con, vì con hy vọng nơi Ngài.
\s5
\v 22 Thiên Chúa ôi, xin giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi mọi gian truân!
\s5
\c 26
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin phân xử cho con, vì con bước đi cách thanh liêm; con đã tin cậy Chúa Hằng Hữu không lay chuyển.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu ôi, xin xem xét con, và thử con; xin tra xét sự thanh sạch của lòng dạ con!
\s5
\v 3 Vì trước mặt con là lòng thành tín về giao ước Chúa, và con bước đi trong chân lý Ngài.
\s5
\v 4 Con không kết bạn với kẻ lừa dối, cũng không hòa đồng với kẻ bất lương.
\s5
\v 5 Con ghét hội của kẻ làm ác, và con không chung sống với bọn xấu xa.
\s5
\v 6 Lạy Chúa Hằng Hữu, con rửa tay trong sự vô tội, và đi vòng quanh bàn thờ Ngài,
\s5
\v 7 để hát lớn tiếng bài ca chúc tụng và thuật lại mọi công việc kỳ diệu của Ngài.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ôi, con yêu mến ngôi nhà Chúa ngự, nơi vinh quang Ngài tỏa rạng.
\s5
\v 9 Xin Chúa đừng đùa con đi chung với tội nhân, hay đùa mạng sống con chung với những kẻ khát máu,
\s5
\v 10 là những kẻ dùng tay mình thực hiện mưu kế, dùng tay phải mình nhận của hối lộ.
\s5
\v 11 Về phần mình, con sẽ bước đi cách thanh liêm; xin hãy giải cứu con và thương xót con.
\s5
\v 12 Chân con đứng trên chỗ bằng phẳng; con sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu trong các hội.
\s5
\c 27
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu là ánh sáng và sự cứu rỗi của con; con sẽ sợ ai? Chúa Hằng Hữu là nơi nương náu của mạng sống con; con sẽ kinh hãi ai?
\s5
\v 2 Khi kẻ làm ác kéo lại gần con để ăn nuốt thịt con, thì kẻ địch và kẻ thù con đều vấp ngã.
\s5
\v 3 Dầu một đạo quân đóng trại nghịch với con thì lòng con sẽ không sợ; cho dù chiến tranh nổi lên chống lại con thì con cũng sẽ cứ vững tin.
\s5
\v 4 Con đã cầu xin Chúa Hằng Hữu một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy, đó là được sống trong nhà của Chúa Hằng Hữu trọn những ngày của đời sống con, để thấy vẻ đẹp của Chúa Hằng Hữu và suy ngẫm trong đền Ngài.
\s5
\v 5 Vì trong ngày khó khăn, Ngài sẽ che chở con trong lều Ngài; Ngài sẽ giấu con trong nơi ẩn nấp của trại Ngài. Ngài sẽ đỡ con lên trên một vầng đá!
\s5
\v 6 Khi ấy, đầu con sẽ ngước cao hơn các kẻ thù vây quanh con, và con sẽ dâng của lễ vui mừng trong trại Ngài! Con sẽ hát và sáng tác những bài hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu!
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ôi, xin nghe tiếng con khi con kêu van! Xin Chúa thương xót con và đáp lời con!
\s5
\v 8 Lòng con nói về Chúa rằng: “Hãy tìm kiếm mặt Ngài!” Lạy Chúa Hằng Hữu, con tìm kiềm mặt Chúa đây!
\s5
\v 9 Xin đừng ẩn mặt khỏi con; trong cơn giận, xin đừng đuổi tôi tớ Ngài đi! Ngài là Đấng cứu giúp con; lạy Thiên Chúa của sự cứu rỗi con, xin đừng lìa con, đừng bỏ con!
\s5
\v 10 Cho dù cha mẹ con có từ bỏ con, thì Chúa Hằng Hữu sẽ tiếp nhận con.
\s5
\v 11 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin dạy cho con đường lối Ngài! Vì kẻ thù của con, xin dẫn con trên con đường bằng phẳng.
\s5
\v 12 Xin đừng bỏ mặc con cho ước muốn của kẻ thù, vì đã có những kẻ làm chứng gian nổi lên chống lại con, và bọn chúng sặc mùi hung bạo.
\s5
\v 13 Con đã ra sao rồi nếu không tin rằng sẽ thấy ơn lành của Chúa Hằng Hữu nơi đất kẻ sống?
\s5
\v 14 Hãy chờ đợi Chúa Hằng Hữu; hãy mạnh mẽ và can đảm trong lòng! Hãy chờ đợi Chúa Hằng Hữu!
\s5
\c 28
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, con kêu cầu Ngài; hỡi Vầng Đá của con, xin đừng phớt lờ con. Nếu Chúa không đáp lại con, thì con sẽ gia nhập hàng ngũ của những kẻ đi xuống mồ mả.
\s5
\v 2 Xin nghe tiếng kêu nài của con khi con cầu cứu Ngài, khi con đưa tay lên hướng về nơi chí thánh của Ngài!
\s5
\v 3 Xin đừng kéo con đi cùng với kẻ ác, là kẻ phạm tội, kẻ miệng nói hòa hảo với người khác nhưng trong lòng toan tính điều dữ.
\s5
\v 4 Xin Chúa trả cho chúng tương xứng với việc chúng gây ra, và báo cho chúng tùy theo sự gian ác chúng; xin báo trả chúng về công việc tay chúng làm; hãy đáp lại chúng bằng điều chúng đáng nhận.
\s5
\v 5 Vì chúng không hiểu biết các đường lối của Chúa Hằng Hữu và công việc của tay Ngài, nên Ngài sẽ phá đổ chúng mà chẳng bao giờ dựng lại.
\s5
\v 6 Đáng ca ngợi Chúa Hằng Hữu vì Ngài đã nghe tiếng cầu khẩn của con!
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu là sức mạnh và thuẫn che chở con; lòng con tin cậy Ngài, và được cứu giúp! Vậy nên lòng con rất hân hoan, và con sẽ hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu là sức lực của dân Ngài, Ngài là nơi trú ẩn an toàn cho người được xức dầu của Ngài.
\s5
\v 9 Xin hãy cứu dân Ngài, và ban phước cho di sản của Ngài. Xin hãy chăn dắt họ và bồng bế họ mãi mãi.
\s5
\c 29
\p
\v 1 Hỡi các con trai của Thiên Chúa, hãy xưng nhận Chúa Hằng Hữu vinh hiển và quyền năng!
\s5
\v 2 Hãy dâng cho Chúa Hằng Hữu sự tôn kính xứng đáng cho danh Ngài; hãy cúi đầu xuống trước Chúa Hằng Hữu trong sự vinh hiển của đức thánh khiết Ngài.
\s5
\v 3 Tiếng của Chúa Hằng Hữu vang trên sông biển; Thiên Chúa vinh hiển nổi sấm, Chúa Hằng Hữu phát sấm rền trên nhiều vùng biển.
\s5
\v 4 Tiếng của Chúa Hằng Hữu thật mạnh mẽ; tiếng của Chúa Hằng Hữu thật oai nghi.
\s5
\v 5 Tiếng của Chúa Hằng Hữu bẻ gãy cây bá hương; Chúa Hằng Hữu bẻ nát vụn cây bá hương xứ Li-ban.
\s5
\v 6 Ngài khiến xứ Li-ban nhảy như con bê, khiến Si-ri-ôn nhảy như bò tót tơ.
\s5
\v 7 Tiếng của Chúa Hằng Hữu lóe ra các ngọn lửa.
\s5
\v 8 Tiếng của Chúa Hằng Hữu làm rung chuyển hoang mạc; Chúa Hằng Hữu làm rung chuyển hoang mạc Ca-đe.
\s5
\v 9 Tiếng của Chúa Hằng Hữu khiến nai cái chuyển dạ; tiếng ấy khiến cây rừng trụi lá; nhưng trong đền Ngài, mọi người đều hô lên: “Vinh quang thay!”
\s5
\v 10 Chúa Hằng Hữu ngự trị trên cơn lũ; Chúa Hằng Hữu ngự trị đến đời đời.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu ban sức mạnh cho dân Ngài; Chúa Hằng Hữu ban phước bình an cho dân Ngài.
\s5
\c 3
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, các kẻ thù của con đông quá! Lắm kẻ đã nổ dậy chống lại con.
\s5
\v 2 Nhiều người nói về con, rằng: “Nơi Thiên Chúa chẳng có sự cứu giúp cho hắn.” Sê-la
\s5
\v 3 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài là thuẫn vây bọc con, là vinh quang của con, là Đấng khiến con ngước đầu lên.
\s5
\v 4 Tôi cất tiếng kêu cầu Chúa Hằng Hữu, và từ núi thánh Ngài, Ngài đáp lời tôi. Sê-la
\s5
\v 5 Tôi nằm xuống và ngủ; tôi thức giấc, vì Chúa Hằng Hữu che chở tôi.
\s5
\v 6 Tôi sẽ không sợ muôn người nổi dậy chống nghịch tôi từ mọi hướng.
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ôi, xin trỗi dậy! Lạy Chúa của con, xin cứu con! Vì Ngài sẽ vả má mọi kẻ thù nghịch con; Ngài sẽ bẻ răng kẻ ác.
\s5
\v 8 Sự cứu rỗi đến từ Chúa Hằng Hữu. Nguyện các phước lành Ngài giáng trên dân Ngài. Sê-la
\s5
\c 30
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, con sẽ tôn cao Ngài, vì Ngài đã nâng con lên và không để cho các kẻ thù nghịch con vui mừng về con.
\s5
\v 2 Thiên Chúa Hằng Hữu của con, con đã kêu cầu Ngài cứu giúp và Ngài đã chữa lành con.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, Chúa đã đem linh hồn con khỏi âm phủ; Ngài đã giữ để con được sống mà khỏi xuống mồ.
\s5
\v 4 Hỡi những người trung tín của Chúa, hãy hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu! Hãy cảm tạ Ngài khi nhớ đến sự thánh khiết Ngài.
\s5
\v 5 Vì cơn giận của Ngài chỉ trong một lúc; nhưng ban ơn đến trọn đời. Sự than khóc đến trọ trong đêm, nhưng sáng ra thì có sự vui mừng.
\s5
\v 6 Với lòng tin chắc, con nói rằng: “Con sẽ chẳng bao giờ rúng động.”
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ôi, bởi ơn Ngài, Ngài đã vững lập con như hòn núi vững chắc; nhưng khi Ngài ẩn mặt đi, thì con bối rối.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ôi, con kêu cầu Ngài và tìm kiếm ơn của Chúa mình!
\s5
\v 9 Nếu con phải xuống mồ thì sự chết của con có ích gì chăng? Cát bụi sẽ ca ngợi Chúa sao? Nó sẽ rao ra sự thành tín của Ngài ư?
\s5
\v 10 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy nghe và thương xót con! Chúa Hằng Hữu ôi, xin Ngài cứu giúp con.
\s5
\v 11 Chúa đã đổi sự than khóc con thành nhảy múa; Ngài đã cởi bỏ áo tang con và mặc cho con sự vui mừng.
\s5
\v 12 Nên giờ đây vinh quang của con sẽ hát ca ngợi Ngài và sẽ không nín lặng; lạy Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa con, con sẽ cảm tạ Ngài đời đời!
\s5
\c 31
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, con nương náu mình nơi Ngài; xin đừng để con bị sỉ nhục. Xin giải cứu con bằng sự công bình của Ngài.
\s5
\v 2 Xin hãy nghe con; xin mau mau giải cứu con; hãy làm vầng đá cho con nương náu, làm đồn lũy cứu mạng con.
\s5
\v 3 Vì Chúa là vầng đá và đồn lũy của con; cho nên, vì danh Ngài, xin dẫn dắt con.
\s5
\v 4 Xin Chúa kéo con ra khỏi lưới mà chúng đã gài để bắt con, vì Ngài là nơi ẩn náu của con.
\s5
\v 5 Lạy Chúa Hằng Hữu, là Đức Chúa Trời đáng tin cậy, con giao thác tâm linh con vào tay Ngài; Ngài sẽ cứu chuộc con.
\s5
\v 6 Con ghét những kẻ phục vụ các thần tượng chẳng ra gì, nhưng con tin cậy Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 7 Con sẽ vui mừng, hân hoan về lòng thành tín về giao ước của Chúa, vì Ngài đã thấy nỗi khốn cùng của con; Ngài biết sự nguy khốn của linh hồn con.
\s5
\v 8 Ngài không giao con cho kẻ thù nghịch con. Ngài đã đặt chân con ở nơi rộng rãi.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu ôi, xin thương xót con, vì con nguy khốn; mắt con mòn mỏi vì nỗi sầu khổ trong linh hồn và thể xác.
\s5
\v 10 Cuộc đời con rã rời vì buồn rầu, năm tháng con mỏi mệt vì thở than. Sức lực con tiêu hao vì tội lỗi mình, còn xương cốt con thì hao mòn.
\s5
\v 11 Do các kẻ thù nghịch con nên người ta khinh bỉ con; kẻ lân cận con kinh hãi trước tình trạng của con, và những ai biết con đều khiếp sợ. Những kẻ nhìn thấy con ngoài phố đều chạy tránh con.
\s5
\v 12 Con bị bỏ quên như người đã chết chẳng còn ai nghĩ đến. Con chẳng khác gì một chiếc bình vỡ.
\s5
\v 13 Vì con đã nghe tiếng xầm xì của nhiều người, hung tin từ mọi phía, khi chúng cùng lập mưu hại con. Chúng toan tính cất lấy mạng sống con.
\s5
\v 14 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, con tin cậy Ngài; con nói: “Ngài là Thiên Chúa của con.”
\s5
\v 15 Số phần con ở trong tay Ngài. Xin giải cứu con khỏi tay các kẻ thù nghịch con và khỏi những kẻ săn đuổi con.
\s5
\v 16 Xin Chúa khiến mặt Ngài soi sáng trên tôi tớ Ngài; xin cứu con bởi lòng thành tín về giao ước của Chúa.
\s5
\v 17 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng để con phải chịu nhục; vì con kêu cầu cùng Chúa! Nguyện kẻ ác bị sỉ nhục! Cầu cho chúng phải nín lặng dưới âm phủ.
\s5
\v 18 Nguyện môi dối trá nói hành người công chính với thái độ thách thức, kiêu căng, khinh miệt, phải câm nín lại.
\s5
\v 19 Lớn lao thay là sự nhân từ mà Chúa đã để dành cho người tôn kính Ngài và thể hiện cho kẻ nương náu nơi Ngài trước mặt toàn thể loài người,
\s5
\v 20 Chúa giấu họ trong nơi trú ẩn trước mặt Chúa, khuất khỏi các mưu chước của loài người. Ngài giấu họ trong nơi trú ẩn cách xa miệng lưỡi hung bạo.
\s5
\v 21 Đáng ca ngợi Chúa Hằng Hữu, vì Ngài đã tỏ cho con sự thành tín diệu kỳ khi con ở trong một thành bị vây hãm.
\s5
\v 22 Dầu con có vội vã nói: “Con đã bị tách khỏi tầm nhìn của Chúa,” nhưng Ngài vẫn nghe lời cầu cứu của con khi con kêu xin Ngài.
\s5
\v 23 Tất cả những người trung tín hãy yêu mến Chúa Hằng Hữu. Chúa Hằng Hữu bảo vệ người trung tín, nhưng Ngài báo trả đích đáng kẻ kiêu ngạo.
\s5
\v 24 Hỡi những ai nhờ cậy Chúa Hằng Hữu, hãy mạnh mẽ và vững tin.
\s5
\c 32
\p
\v 1 Phước cho người được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình.
\s5
\v 2 Phước cho người không bị Chúa Hằng Hữu kể là có tội và trong tâm linh không có sự dối trá.
\s5
\v 3 Khi con cứ nín lặng, thì xương cốt con bị hao mòn và con rên rỉ suốt cả ngày.
\s5
\v 4 Vì ngày đêm tay Chúa đè nặng trên con. Sức lực con héo hon như giữa cơn hạn mùa hè. Sê-la
\s5
\v 5 Rồi con nhận tội với Chúa, không che giấu tội mình nữa. Con nói: “Mình sẽ thú nhận các vi phạm với Chúa Hằng Hữu,” và Ngài đã tha thứ tội lỗi con. Sê-la
\s5
\v 6 Vì vậy, mọi người kính sợ Chúa phải cầu nguyện với Chúa trong lúc gian truân. Rồi khi nước lũ dâng tràn, nó sẽ không đụng đến những người ấy.
\s5
\v 7 Chúa là nơi ẩn náu của con; Ngài sẽ bảo vệ con khỏi hoạn nạn. Ngài sẽ bao phủ con bằng những bài ca khải hoàn. Sê-la
\s5
\v 8 Ta sẽ chỉ dẫn con và dạy cho con biết con đường phải đi. Mắt ta sẽ chăm chú nhìn con mà chỉ dạy con.
\s5
\v 9 Đừng như con ngựa hay con la, là loài vô tri; phải có dây cương và hàm thiếc mới điều khiển được chúng và khiến chúng đi đến nơi con muốn.
\s5
\v 10 Kẻ ác có nhiều nỗi buồn rầu, nhưng sự thành tín của Chúa Hằng Hữu sẽ bao quanh người tin cậy Ngài.
\s5
\v 11 Hỡi người công chính, hãy vui sướng nơi Chúa Hằng Hữu; hỡi người có lòng ngay thẳng, hãy reo vui.
\s5
\c 33
\p
\v 1 Hỡi người công chính, hãy vui mừng nơi Chúa Hằng Hữu; ca ngợi Chúa là việc người ngay thẳng nên làm.
\s5
\v 2 Hãy dùng đàn hạc mà tạ ơn Chúa Hằng Hữu; hãy dùng đàn thập huyền hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 3 Hãy hát cho Ngài một bài ca mới; hãy chơi cho thật hay và hát xướng cách vui mừng.
\s5
\v 4 Vì lời Chúa Hằng Hữu là ngay thẳng, mọi việc Ngài làm đều công bình.
\s5
\v 5 Chúa yêu thích sự công chính và lẽ phải. Trái đất đầy dẫy sự thành tín của Ngài.
\s5
\v 6 Bởi lời của Chúa Hằng Hữu mà các tầng trời được tạo thành, còn mọi vì sao đều nhờ hơi thở của miệng Ngài mà có.
\s5
\v 7 Chúa gom nước biển lại thành đống; Ngài trữ các đại dương vào trong kho.
\s5
\v 8 Cả trái đất hãy kính sợ Chúa Hằng Hữu; mọi cư dân trên thế gian phải tôn kính Ngài.
\s5
\v 9 Vì Ngài phán thì việc được thực hiện; Ngài ra lệnh thì vật đứng vững.
\s5
\v 10 Chúa Hằng Hữu đảo lộn liên minh giữa các nước; Ngài gạt bỏ chương trình của các dân.
\s5
\v 11 Chương trình của Chúa Hằng Hữu đứng vững đến đời đời, tức ý định của lòng Ngài dành cho mọi thế hệ.
\s5
\v 12 Phước cho dân tộc nào có Chúa Hằng Hữu làm Thiên Chúa mình, tức dân Ngài đã chọn làm di sản của riêng mình.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu từ trời nhìn xuống; Ngài thấy hết mọi người.
\s5
\v 14 Từ nơi ngự của Ngài, Chúa nhìn xuống mọi người sống trên đất.
\s5
\v 15 Đấng uốn nắn lòng dạ mọi người nhìn thấy mọi việc họ làm.
\s5
\v 16 Chẳng có vua nào nhờ binh đông mà được cứu; người dũng sĩ cũng không được cứu nhờ mạnh sức.
\s5
\v 17 Nhờ ngựa để được thắng là ảo tưởng; cho dù mạnh mẽ, nhưng nó chẳng cứu được ai.
\s5
\v 18 Kìa, mắt Chúa Hằng Hữu nhìn xem kẻ kính sợ Ngài, tức người biết hi vọng sự thành tín của Chúa
\s5
\v 19 cứu mạng mình khỏi chết và giữ cho mình được sống trong lúc đói kém.
\s5
\v 20 Chúng tôi trông đợi Chúa Hằng Hữu; Ngài là nguồn cứu giúp và thuẫn bảo vệ chúng tôi.
\s5
\v 21 Lòng chúng tôi vui mừng nơi Ngài, vì chúng tôi tin cậy danh thánh Ngài.
\s5
\v 22 Lạy Chúa Hằng Hữu, nguyện sự thành tín Ngài ở với chúng con khi chúng con đặt hy vọng nơi Ngài.
\s5
\c 34
\p
\v 1 Tôi sẽ ca ngợi Chúa Hằng Hữu không thôi; miệng tôi sẽ luôn ca ngợi Ngài.
\s5
\v 2 Tôi sẽ ca ngợiChúa Hằng Hữu; nguyện những kẻ khốn cùng nghe và mừng rỡ.
\s5
\v 3 Hãy cùng tôi ca ngợi Chúa Hằng Hữu; chúng ta hãy cùng tôn cao danh Ngài.
\s5
\v 4 Tôi tìm cầu Chúa Hằng Hữu, và Ngài đáp lời tôi; Ngài cho tôi thắng hơn mọi nỗi sợ hãi.
\s5
\v 5 Những ai trông đợi Chúa đều rạng rỡ, và họ không bị xấu mặt.
\s5
\v 6 Kẻ khốn cùng này có kêu cầu, và Chúa Hằng Hữu đã nghe, cứu hắn khỏi mọi nỗi gian truân.
\s5
\v 7 Thiên sứ của Chúa Hằng Hữu đóng trại chung quanh kẻ kính sợ Ngài và giải cứu họ.
\s5
\v 8 Hãy nếm biết Chúa Hằng Hữu là tốt lành; phước cho người nương náu nơi Ngài.
\s5
\v 9 Hãy kính sợ Chúa Hằng Hữu, hỡi những người thánh của Ngài; người kính sợ Ngài chẳng bị thiếu thốn.
\s5
\v 10 Sư tử tơ có lúc thiếu ăn phải chịu đói; nhưng ai tìm kiếm Chúa Hằng Hữu sẽ chẳng thiếu điều gì tốt đẹp.
\s5
\v 11 Hỡi các con, hãy đến nghe ta; ta sẽ dạy các con biết kính sợ Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 12 Người nào khao khát sống và muốn trường thọ hưởng phước trong đời?
\s5
\v 13 Hãy kiêng nói lời dữ, và giữ môi miệng khỏi nói lời dối.
\s5
\v 14 Hãy từ bỏ điều tà ác và làm điều thiện lành; hãy tìm kiếm và đề cao sự thuận hòa.
\s5
\v 15 Mắt của Chúa Hằng Hữu nhìn xem người công chính, và tai Ngài để ý nghe tiếng kêu van của họ.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu chống lại kẻ làm ác để xóa sạch ký ức về chúng khỏi đất.
\s5
\v 17 Người công bình kêu cầu, Chúa Hằng Hữu nghe và giải cứu họ khỏi mọi nỗi gian truân.
\s5
\v 18 Chúa Hằng Hữu ở gần kẻ có lòng tan vỡ, và Ngài cứu kẻ có tâm linh bị vùi dập.
\s5
\v 19 Các nan đề của người công chính nhiều thật, nhưng Chúa Hằng Hữu giải cứu người ra khỏi tất cả các nan đề đó.
\s5
\v 20 Ngài bảo vệ mọi xương cốt người; sẽ chẳng cái nào bị gãy.
\s5
\v 21 Điều ác sẽ giết chết kẻ ác; ai ghét người công chính sẽ bị định tội.
\s5
\v 22 Giê-hô-và cứu chuộc linh hồn các đầy tớ Ngài; sẽ chẳng có người nào nương náu nơi Ngài bị lên án.
\s5
\c 35
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy chống lại kẻ chống lại con; xin chiến đấu với kẻ chống nghịch con.
\s5
\v 2 Xin Chúa cầm lấy thuẫn và khiên; xin Ngài chỗi dậy cứu giúp con.
\s5
\v 3 Xin dùng giáo và rìu chiến mà địch lại kẻ săn đuổi con; xin hãy nói với linh hồn con: “Ta là sự cứu rỗi con.”
\s5
\v 4 Nguyện kẻ tìm giết mạng sống con phải xấu hổ và sỉ nhục. Nguyện kẻ định ý hại con phải trở lui và bối rối.
\s5
\v 5 Nguyện chúng giống như vỏ trấu trước gió, khi thiên sứ của Chúa Hằng Hữu xua chúng đi.
\s5
\v 6 Nguyện con đường chúng nó thành ra tối tăm, trợn trượt, khi thiên sứ của Thiên Chúa săn đuổi chúng.
\s5
\v 7 Chúng giăng bẫy lưới bắt con vô cớ; chẳng hiểu vì sao chúng lại đào hầm hại con.
\s5
\v 8 Hãy để sự hủy diệt bất ngờ ập lên chúng. Hãy để chúng mắc vào lưới mà mình đã giăng. Hãy để chúng té vào đó và bị tiêu diệt.
\s5
\v 9 Nhưng con sẽ vui mừng nơi Chúa Hằng Hữu và hớn hở về sự cứu rỗi Ngài.
\s5
\v 10 Con sẽ thưa, với cả sức lực mình, rằng: “Lạy Chúa Hằng Hữu, có ai giống như Ngài? Có ai giải cứu người khốn cùng khỏi kẻ mạnh thế, giải cứu người nghèo thiếu khỏi kẻ cướp bóc họ?”
\s5
\v 11 Bọn chứng nhân bất chính nổi lên; chúng vu cáo con.
\s5
\v 12 Chúng lấy oán trả ơn cho con. Con quá đau buồn.
\s5
\v 13 Nhưng, khi chúng đau yếu thì con đã mặc bao gai; con gục mặt kiêng ăn vì chúng.
\s5
\v 14 Con đi lại sầu thảm như thể khóc than cho anh em mình; con gập người than khóc như khóc thương mẹ mình.
\s5
\v 15 Nhưng khi con vấp ngã thì chúng vui mừng và quy tụ lại; chúng nhóm hội chống lại con, khiến con sửng sốt. Chúng cấu xé con không ngừng nghỉ.
\s5
\v 16 Chúng nhạo cười con không chút nể nang; chúng nghiến răng hăm dọa con.
\s5
\v 17 Ôi Chúa, Ngài sẽ còn thờ ơ đến bao giờ? Xin giải cứu linh hồn con khỏi những sự công kích tàn hại của chúng nó, xin giải cứu mạng sống con khỏi bầy sư tử.
\s5
\v 18 Thì con sẽ cảm tạ Ngài trong hội lớn; con sẽ ca ngợi Ngài giữa nhiều người.
\s5
\v 19 Xin đừng để các kẻ thù lọc lừa con hoan hỉ vì con; xin đừng để chúng thực hiện các mưu đồ ác độc của mình.
\s5
\v 20 Vì chúng không nói hòa bình, mà đặt điều công kích người đang sống thuận hòa trong xứ chúng con.
\s5
\v 21 Chúng lớn láo chống lại con, mà rằng: “Ha, ha, mắt bọn ta đã thấy rồi.”
\s5
\v 22 Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài đã thấy việc ấy, xin Ngài đừng lặng thinh; hỡi Chúa, xin đừng cách xa con.
\s5
\v 23 Xin hãy tỉnh giấc và thức dậy mà bênh vực con; Thiên Chúa của con, Chúa của con ôi, xin Ngài bênh vực chính nghĩa của con.
\s5
\v 24 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của con, xin bảo vệ con vì sự công bình của Ngài; xin đừng để chúng vui mừng về con.
\s5
\v 25 Xin đừng để chúng nhủ thầm: “A ha, ta đã đạt được điều mình muốn.” Đừng để chúng nói: “Bọn ta đã nuốt chửng nó.”
\s5
\v 26 Xin khiến chúng phải xấu hổ, và đánh bại kẻ muốn hãm hại con. Nguyện kẻ chế nhạo con phải xấu hổ và sỉ nhục.
\s5
\v 27 Nguyện những người muốn con được minh oan sẽ reo lên vui mừng và sung sướng; nguyện họ cứ mãi nói: “Đáng ngợi khen Chúa Hằng Hữu, Đấng lấy làm vui ban phước cho tôi tớ Ngài.”
\s5
\v 28 Rồi suốt ngày con sẽ thuật lại sự công bình Chúa và ca ngợi Ngài.
\s5
\c 36
\p
\v 1 Từ trong lòng, kẻ gian ác nói về những sự vi phạm của hắn; trong mắt hắn chẳng có sự kính sợ Thiên Chúa.
\s5
\v 2 Vì hắn tự yên ủi và nghĩ rằng tội hắn sẽ chẳng bại lộ và chẳng bị ai ghét.
\s5
\v 3 Lời của hắn nhuốm đầy tội lỗi và lọc lừa; hắn chẳng muốn khôn ngoan, lương thiện.
\s5
\v 4 Lúc nằm trên gường hắn toan tính cách phạm tội; hắn khởi đi trên con đường tà ác; hắn chẳng khước từ điều dữ.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu ôi, đức thành tín Ngài lên đến các tầng trời; lòng trung nghĩa Ngài vươn đến tận mây.
\s5
\v 6 Sự công chính Ngài như ngọn núi chót vót; sự công bình Ngài như biển thẳm sâu. Lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài bảo tồn cả loài người lẫn loài thú vật.
\s5
\v 7 Lạy Thiên Chúa, lòng thành tín về giao ước Chúa quý báu thay! Loài người nương náu dưới bóng cánh Ngài!
\s5
\v 8 Họ sẽ được no đầy nhờ lương thực dư dật trong nhà Chúa; Ngài cho họ uống nước sông phước lạc quý báu của Ngài.
\s5
\v 9 Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; trong sự sáng Ngài chúng con thấy ánh sáng.
\s5
\v 10 Xin Chúa cứ tỏ lòng thành tín về giao ước trọn vẹn cho người nhận biết Ngài, và bênh vực kẻ có lòng ngay thẳng.
\s5
\v 11 Xin đừng để bàn chân của kẻ kiêu ngạo lại gần con. Đừng để bàn tay kẻ ác xua đuổi con.
\s5
\v 12 Ở đó, kẻ làm ác sa ngã; chúng bị hạ gục và không đứng dậy được.
\s5
\c 37
\p
\v 1 Đừng bực dọc vì kẻ làm ác; đừng ganh tị với kẻ hành động bất chính.
\s5
\v 2 Vì họ sẽ sớm khô đi như cỏ và tàn héo như cây xanh.
\s5
\v 3 Hãy tin cậy Chúa Hằng Hữu và làm điều đúng đắn; hãy an cư trong xứ và sống trung tín.
\s5
\v 4 Hãy vui thích nơi Chúa Hằng Hữu, rồi Ngài sẽ ban cho con các ước muốn của lòng mình.
\s5
\v 5 Hãy trao phó các đường lối mình cho Chúa Hằng Hữu; hãy tin cậy Ngài, rồi Ngài sẽ thay mặt con mà hành động.
\s5
\v 6 Ngài sẽ khiến công lý của con tỏ lộ như ánh sáng ban ngày và sự vô tội của con sẽ như trời lúc giữa trưa.
\s5
\v 7 Hãy yên lặng trước mặt Chúa Hằng Hữu và kiên nhẫn trông đợi Ngài. Đừng lo lắng nếu có người thành công trong các việc làm của họ, hoặc ai đó thực hiện trót lọt các mưu chước mình.
\s5
\v 8 Đừng nổi giận và thất vọng. Chớ lo lắng; làm vậy chỉ đem lại rắc rối.
\s5
\v 9 Kẻ làm ác sẽ bị diệt vong, còn người trông đợi Chúa Hằng Hữu sẽ thừa hưởng xứ.
\s5
\v 10 Ít lâu nữa, kẻ ác sẽ biến mất; con sẽ nhìn vào chỗ hắn, nhưng hắn không còn nữa.
\s5
\v 11 Nhưng người nhu mì sẽ thừa hưởng xứ và sẽ vui mừng trong sự thịnh vượng.
\s5
\v 12 Kẻ ác lập mưu hại người công chính, nghiến răng hăm dọa người.
\s5
\v 13 Chúa cười nhạo hắn, vì Ngài thấy ngày hắn sắp đến.
\s5
\v 14 Kẻ ác rút gươm và giương cung mình để hạ người cùng khốn và người thiếu thốn, để sát hại người ngay thẳng.
\s5
\v 15 Gươm chúng sẽ trở đâm vào tim chúng, còn cung chúng sẽ bị gãy.
\s5
\v 16 Người công chính tuy có ít nhưng vẫn hơn sự dư giả của nhiều kẻ ác.
\s5
\v 17 Vì cánh tay của kẻ ác sẽ bị gãy, nhưng Chúa Hằng Hữu nâng đỡ người công chính.
\s5
\v 18 Chúa Hằng Hữu hằng bảo vệ người thiện hảo, và di sản họ sẽ còn mãi mãi.
\s5
\v 19 Họ sẽ không hổ thẹn trong thời khó khăn. Khi đói kém xảy đến, họ sẽ vẫn no đủ.
\s5
\v 20 Nhưng kẻ ác sẽ diệt vong. Kẻ thù của Chúa Hằng Hữu chẳng khác nào vinh quang của cây cỏ; chúng sẽ bị thiêu hủy và tan theo làn khói.
\s5
\v 21 Kẻ ác mượn mà không trả lại, còn người công chính rộng rãi ban tặng.
\s5
\v 22 Người được Chúa Hằng Hữu ban phước sẽ thừa hưởng đất; kẻ bị Ngài rủa sả sẽ bị diệt mất.
\s5
\v 23 Chính nhờ Chúa Hằng Hữu mà các bước của người có đường lối đẹp ý Ngài được vững chắc.
\s5
\v 24 Dầu có sẩy chân thì người cũng không té ngã, vì Chúa Hằng Hữu đỡ nâng người trong tay Ngài.
\s5
\v 25 Trước tôi trẻ và nay đã già; tôi chưa từng thấy người công chính bị ruồng bỏ hay con cháu người phải ăn xin.
\s5
\v 26 Suốt ngày người rộng rãi cho vay mượn, còn con cháu người trở nên nguồn phước.
\s5
\v 27 Hãy bỏ điều tà ác và làm điều phải; rồi con sẽ được an ninh mãi mãi.
\s5
\v 28 Vì Chúa Hằng Hữu ưa thích công lý và không ruồng bỏ người trung tín theo Ngài. Họ được gìn giữ đến đời đời, nhưng con cháu kẻ ác sẽ bị diệt vong.
\s5
\v 29 Người công chính sẽ thừa hưởng xứ và sống tại đó mãi mãi.
\s5
\v 30 Miệng của người công chính nói lời khôn ngoan và đề cao công lý.
\s5
\v 31 Luật pháp của Thiên Chúa người ở trong lòng người; chân người sẽ không trượt ngã.
\s5
\v 32 Kẻ ác theo dõi người công chính và tìm cách hãm hại người.
\s5
\v 33 Chúa Hằng Hữu sẽ không bỏ mặc người vào tay kẻ ác hay kết án người khi người chịu xét xử.
\s5
\v 34 Hãy trông đợi Chúa Hằng Hữu và giữ đường lối Ngài, rồi Ngài sẽ cất con lên thừa hưởng xứ. Con sẽ nhìn và thấy kẻ ác bị diệt vong.
\s5
\v 35 Ta đã nhìn thấy kẻ hung ác vươn lên như một cây xanh tốt mọc trên đất bản địa.
\s5
\v 36 Nhưng khi ta đi qua đó lần nữa thì hắn không còn. Ta thử tìm hắn nhưng không gặp.
\s5
\v 37 Hãy quan sát người chính trực, và nhìn xem người ngay thẳng; có tương lai tốt đẹp dành cho người sống hòa thuận.
\s5
\v 38 Kẻ có tội sẽ bị tận diệt; tương lai của kẻ ác sẽ tiêu vong.
\s5
\v 39 Sự cứu rỗi người công chính đến từ Chúa Hằng Hữu; Ngài bảo vệ họ trong lúc nguy khốn.
\s5
\v 40 Chúa Hằng Hữu giúp đỡ họ và giải cứu họ. Ngài giải thoát họ khỏi kẻ ác và cứu họ vì họ nương náu nơi Ngài.
\s5
\c 38
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, trong cơn thịnh nộ xin Ngài đừng quở trách con; xin đừng trừng phạt con khi Ngài nổi giận.
\s5
\v 2 Vì các mũi tên Ngài xuyên thủng con, và tay Ngài đè ép lên con.
\s5
\v 3 Toàn thân con đau yếu vì cơn thạnh nộ của Ngài; các xương cốt con không còn khỏe mạnh vì tội lỗi mình.
\s5
\v 4 Vì các tội lỗi con phủ lấp con; chúng nặng quá sức con chịu đựng.
\s5
\v 5 Các vết thương của con bị tấy độc và bốc mùi vì những tội lỗi xuẩn ngốc của con.
\s5
\v 6 Hằng ngày con phải cúi mình chịu nhục; suốt cả ngày con đi lại than khóc.
\s5
\v 7 Vì trong lòng con như thiêu như đốt, toàn thân con ngã bệnh.
\s5
\v 8 Con bị tê dại và nghiền nát; con thở than vì nỗi thống khổ trong lòng.
\s5
\v 9 Chúa ôi, Ngài thấu hiểu những khát vọng sâu kín của lòng con; lời than thở con không giấu được Chúa.
\s5
\v 10 Tim con đập mạnh, sức con suy tàn, mắt con mờ yếu.
\s5
\v 11 Người thân và bầu bạn đều lánh mặt con vì tình trạng của con; kẻ lân cận thì đứng cách xa.
\s5
\v 12 Những kẻ tìm kế hãm hại con suốt ngày nói lời tàn độc và buông lời dối trá.
\s5
\v 13 Nhưng con, con chẳng khác gì người điếc chẳng nghe thấy gì; con như người câm chẳng nói năng.
\s5
\v 14 Con giống như người không nghe biết, cũng chẳng đáp lại.
\s5
\v 15 Chắc chắn con trông đợi Ngài, lạy Chúa Hằng Hữu; Ngài sẽ đáp lời con, lạy Chúa là Thiên Chúa con.
\s5
\v 16 Con nói vậy để kẻ thù con không hả hê về con. Nếu con trượt té thì chúng sẽ tàn hại con.
\s5
\v 17 Vì con sắp bị sẩy chân, và thường xuyên đau đớn.
\s5
\v 18 Con xưng nhận tội con; con lưu tâm về tội lỗi mình.
\s5
\v 19 Nhưng kẻ thù của con quá đông; người ghét con vô cớ quá nhiều.
\s5
\v 20 Chúng lấy oán báo ơn cho con; chúng vu khống con dầu con theo đuổi điều thiện lành.
\s5
\v 21 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng ruồng bỏ con; Thiên Chúa của con ôi, xin đừng cách xa con.
\s5
\v 22 Hỡi Chúa là sự cứu rỗi của con, xin mau đến cứu giúp con.
\s5
\c 39
\p
\v 1 Con đã quyết: “Mình sẽ cẩn trọng trong lời nói để lưỡi khỏi phạm tội. Mình sẽ khớp miệng lại khi ở trước mặt kẻ tà ác.”
\s5
\v 2 Con im lặng, không nói lời nào dù là lời lành, nhưng con càng đau đớn thêm.
\s5
\v 3 Lòng con trở nóng; khi con nghĩ đến những điều ấy, nó thiêu đốt con như lửa cháy. Vậy là con phải thưa:
\s5
\v 4 “Ôi Chúa Hằng Hữu, xin cho con biết khi nào cuộc đời con chấm dứt và các ngày của con dài đến đâu. Xin tỏ cho con thấy mình mong manh thế nào.
\s5
\v 5 Kìa, Chúa đã khiến các ngày con chỉ như gang tấc, và cuộc đời con chẳng là gì trước mặt Chúa. Rõ ràng, mọi người chỉ như hơi thở. Sê-la
\s5
\v 6 Rõ ràng, mọi người đi lại như cái bóng. Ai nấy đều chạy đôn chạy đáo lo tích lũy của cải dầu chẳng biết ai sẽ hưởng được.
\s5
\v 7 Giờ thì, Chúa ôi, con trông đợi gì đây? Ngài là hy vọng duy nhất của con.
\s5
\v 8 Xin giúp con thắng hơn mọi tội mình; xin đừng khiến con bị hổ thẹn cùng kẻ ngu dại.
\s5
\v 9 Con nín thinh, không mở miệng, vì điều Chúa đã làm.
\s5
\v 10 Xin đừng gây thương tích cho con nữa; con bị choáng ngợp bởi cú đấm của tay Ngài.
\s5
\v 11 Khi Chúa sửa phạt người ta vì phạm tội, Ngài ăn mòn những điều họ ao ước như một con nhậy; rõ ràng mọi người chỉ là hơi nước. Sê-la
\s5
\v 12 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy lắng nghe con; xin nghe tiếng khóc than của con! Xin đừng bịt tai với con, vì con như khách lạ đối với Chúa, một kẻ ở nhờ như tất cả các tổ phụ con.
\s5
\v 13 Xin đừng trừng mắt nhìn con nữa, để con lại được tươi cười trước khi con chết.”
\s5
\c 4
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa của sự công bình con, xin đáp lời con khi con kêu cầu Ngài; khi con bị vây hãm, xin đem con vào nơi rộng rãi. Xin thương xót con và nghe lời kêu cầu của con.
\s5
\v 2 Còn các người, các người định khiến thanh danh tôi bị ô nhục cho đến bao giờ? Các người định yêu thích thứ chẳng ra gì và chạy theo điều dối trá trong bao lâu nữa? Sê-la
\s5
\v 3 Nhưng phải biết rằng Chúa Hằng Hữu biệt riêng cho Ngài những người tin kính. Chúa Hằng Hữu sẽ nghe khi tôi kêu cầu Ngài.
\s5
\v 4 Hãy run sợ, nhưng đừng phạm tội! Trên giường mình, hãy suy ngẫm trong lòng và yên lặng. Sê-la
\s5
\v 5 Hãy dâng của lễ công bình và đặt lòng tin cậy nơi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 6 Nhiều người bảo: “Ai sẽ tỏ cho chúng ta thấy điều gì tốt đẹp?” Lạy Chúa Hằng Hữu, xin tỏa rạng ánh tôn nhan Ngài trên chúng con.
\s5
\v 7 Ngài đã cho lòng con được vui sướng hơn những người có ngũ cốc và rượu mới tràn đầy.
\s5
\v 8 Con sẽ nằm xuống ngủ trong sự bình an, vì lạy Chúa Hằng Hữu, chỉ có Ngài khiến con được an ninh và bảo đảm.
\s5
\c 40
\p
\v 1 Tôi kiên nhẫn trông đợi Chúa Hằng Hữu; Ngài lắng tai nghe tiếng kêu cầu của tôi.
\s5
\v 2 Ngài đem tôi ra khỏi cái hầm kinh khiếp, khỏi chốn sình lầy; Ngài đặt chân tôi trên vầng đá và làm vững vàng bước tôi đi.
\s5
\v 3 Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, ca ngợi Thiên Chúa chúng ta. Nhiều người sẽ thấy và tôn kính Ngài, để lòng tin cậy Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 4 Phước cho người nào lấy Chúa Hằng Hữu làm Đấng mình tin cậy và không ngưỡng mộ kẻ kiêu ngạo hoặc kẻ xây bỏ Ngài để theo sự dối trá.
\s5
\v 5 Lạy Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa con, các việc kỳ diệu mà Ngài đã làm thật nhiều lắm, và các ý tưởng Ngài nghĩ về chúng con thì không đếm được; nếu con kể ra và nói đến chúng thì những việc ấy thật không thể đếm được.
\s5
\v 6 Chúa không vui về sinh tế hay của lễ, nhưng Ngài đã mở tai con; Ngài không đòi của lễ thiêu hay lễ chuộc tội.
\s5
\v 7 Vậy, con nói: “Này, con đến đây; trong cuốn sách có chép về con.
\s5
\v 8 lạy Thiên Chúa con, con vui thích làm theo ý Chúa; luật lệ Ngài ở trong lòng con.”
\s5
\v 9 Con đã công bố tin mừng về sự công bình của Ngài giữa hội lớn; ôi Chúa Hằng Hữu, Ngài biết môi miệng con chẳng từ chối làm việc này.
\s5
\v 10 Con không giấu sự công bình Ngài trong lòng con, con đã công bố sự thành tín và sự cứu rỗi của Ngài; và sự chân thật Ngài trước hội lớn. Con không giấu sự thành tín hay đáng tin cậy của Ngài trước hội lớn.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng rút lại lòng thương xót đối với con; xin cứ để lòng thành tín về giao ước và sự chân thật của Ngài gìn giữ con.
\s5
\v 12 Vô số nan đề bủa vây con; tội lỗi con đã theo kịp con, khiến con chẳng còn thấy gì nữa; chúng nhiều hơn cả tóc trên đầu con, khiến tinh thần con suy sụp.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu ôi, xin Ngài làm ơn giải cứu con; Chúa Hằng Hữu ôi, xin mau giúp đỡ con.
\s5
\v 14 Xin khiến những kẻ săn đuổi để cướp đoạt mạng sống con phải xấu hổ và thất vọng ê chề. Những kẻ ưa thích làm thương tổn con, nguyện chúng phải tháo lui và bị sỉ nhục
\s5
\v 15 Những kẻ nói với con: “A ha, a ha,” nguyện chúng phải sửng sốt vì mắc cỡ.
\s5
\v 16 Còn những người tìm kiếm Ngài, nguyện họ vui mừng và sung sướng nơi Ngài; nguyện mọi người yêu mến sự cứu rỗi của Ngài cứ nói luôn: “Đáng chúc tán Chúa Hằng Hữu.”
\s5
\v 17 Con nghèo khổ, thiếu thốn; nhưng Chúa quan tâm đến con. Ngài là Đấng giúp đỡ con và Ngài đến giải cứu con; xin đừng chậm trễ, Thiên Chúa của con ôi.
\s5
\c 41
\p
\v 1 Phước cho người quan tâm đến kẻ yếu thế; trong ngày hoạn nạn, Chúa Hằng Hữu sẽ giải cứu người.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu sẽ bảo toàn sinh mạng người và giữ cho người được sống, và người sẽ được phước trên đất; Chúa Hằng Hữu sẽ không phó người cho ý muốn của kẻ cừu địch người.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu sẽ nâng đỡ người trên giường đau đớn; Chúa sẽ biến giường bệnh người thành giường chữa lành.
\s5
\v 4 Con thưa: “Chúa Hằng Hữu ôi, xin thương xót con! Xin chữa lành con vì con đã phạm tội với Ngài.”
\s5
\v 5 Các kẻ thù nghịch trù ẻo con, rằng: “Chừng nào nó mới chết và tên tuổi nó bị xóa sạch?”
\s5
\v 6 Nếu kẻ thù con đến gặp con, hắn nói những lời chẳng ra gì; lòng hắn chất chứa cho mình tai nạn giống như con; khi hắn ra về, hắn thuật lại cho người khác.
\s5
\v 7 Tất cả những ai ghét con đều xầm xì nói xấu con; chúng hy vọng làm tổn thương con.
\s5
\v 8 Chúng bảo: “Nó mắc phải căn bệnh quái ác; ngã xuống như vậy nó sẽ chẳng trở dậy được đâu.”
\s5
\v 9 Thậm chí người bạn thân của con mà con tin cậy, người ăn bánh của con, cũng giở gót chống lại con.
\s5
\v 10 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, Chúa thương xót con và đỡ con dậy để con báo trả chúng nó.
\s5
\v 11 Vì kẻ thù nghịch không thắng hơn con, nhờ đó con biết rằng Chúa vui thích về con.
\s5
\v 12 Về phần con, bởi con chánh trực nên Chúa nâng đỡ con và sẽ gìn giữ con trước mặt Ngài mãi mãi.
\s5
\v 13 Nguyện Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên được ca ngợi đời đời, mãi mãi. A-men, A-men. Quyển Hai
\s5
\c 42
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, con nai thèm khát suối nước thể nào thì con cũng khao khát Ngài thể ấy.
\s5
\v 2 Con khao khát Thiên Chúa, là Thiên Chúa hằng sống; khi nào con mới được đến ra mắt Thiên Chúa?
\s5
\v 3 Ngày và đêm, nước mắt trở thành đồ ăn của con, trong khi kẻ cừu địch con cứ hỏi con: “Thiên Chúa của mày đâu?”
\s5
\v 4 Khi dốc đổ nỗi lòng mình, con hồi tưởng lại thể nào con đã từng đi cùng đoàn người dự lễ và dẫn họ đến nhà Thiên Chúa trong tiếng reo vui, chúc tụng.
\s5
\v 5 Hỡi linh hồn ta, sao ngươi lại chán nản và bồn chồn trong ta? Hãy hy vọng nơi Thiên Chúa, vì ta sẽ lại ngợi khen Ngài là sự cứu rỗi của ta.
\s5
\v 6 Thiên Chúa của con ôi, linh hồn con sờn ngã trong con; vì vậy, từ vùng đất Giô-đanh, từ ba đỉnh núi Hẹt-môn, từ ngọn đồi Mít-sê-a, con nhớ đến Chúa.
\s5
\v 7 Vực gọi vực theo tiếng của thác nước Chúa; mọi sóng gió ba đào của Ngài đã phủ lút con.
\s5
\v 8 Nhưng ban ngày Chúa Hằng Hữu sẽ ban truyền sự thành tín Ngài; còn ban đêm bài hát của Ngài sẽ ở với con, tức lời cầu nguyện với Thiên Chúa của sự sống con.
\s5
\v 9 Con sẽ thưa với Thiên Chúa, là vầng đá của con, rằng: “Vì sao Ngài quên con? Vì sao con phải than khóc vì bị kẻ thù áp bức?”
\s5
\v 10 Trong khi các cừu địch con luôn hỏi: “Thiên Chúa mày đâu?” thì chúng quở mắng con như thể gươm đâm xoi xương cốt con.
\s5
\v 11 Hỡi linh hồn ta, sao ngươi chán nản? Sao ngươi lại bồn chồn trong ta? Hãy hy vọng nơi Thiên Chúa, vì ta sẽ lại chúc tụng Ngài, là sự cứu rỗi ta và Thiên Chúa ta.
\s5
\c 43
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin hãy phân xử cho con và bênh vực chính nghĩa của con trước một dân bất trung.
\s5
\v 2 Vì Chúa là Thiên Chúa của sức mạnh con; vì sao Ngài khước từ con? Sao con than khóc vì bị kẻ thù mình áp bức?
\s5
\v 3 Xin Chúa tỏa rạng ánh sáng cùng chân lý Ngài; nguyện chúng dẫn dắt con; nguyện chúng đưa con đến núi thánh và nơi ngự của Ngài.
\s5
\v 4 Rồi con sẽ đến bàn thờ của Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa là niềm vui vô biên của con; lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, con sẽ dùng đàn hạc mà ca ngợi Ngài.
\s5
\v 5 Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi chán nản? Vì sao ngươi bồn chồn trong ta? Hãy hy vọng nơi Thiên Chúa, vì ta sẽ còn chúc tụng Ngài, là sự cứu rỗi và là Thiên Chúa ta.
\s5
\c 44
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, tai chúng con có nghe cha ông mình kể lại việc Ngài đã làm trong thời của họ, vào những ngày xa xưa.
\s5
\v 2 Chúa đã dùng chính tay Ngài đuổi các dân đi, nhưng Ngài lại trồng dân tộc của chúng con; Ngài đã hành hại các dân, nhưng lại khiến dân tộc chúng con tràn ra trong xứ.
\s5
\v 3 Vì họ được sở hữu xứ không nhờ thanh gươm mình, cũng chẳng được cứu nhờ cánh tay mình; nhưng nhờ chính tay phải của Chúa, nhờ cánh tay Ngài, và nhờ ánh sáng mặt Ngài, vì Ngài ưu ái họ.
\s5
\v 4 Thiên Chúa ôi, Ngài là Vua của con; xin ban chiến thắng cho Gia-cốp.
\s5
\v 5 Nhờ Ngài chúng con sẽ đè bẹp kẻ thù mình; nhờ danh Ngài, chúng con sẽ giày đạp những kẻ nổi lên nghịch lại chúng con.
\s5
\v 6 Vì con sẽ không cậy cung mình, gươm của con cũng sẽ không cứu được con.
\s5
\v 7 Nhưng Chúa đã cứu chúng con khỏi kẻ thù, và khiến những kẻ ghét chúng con phải hổ thẹn.
\s5
\v 8 Chúng con đã từng hãnh diện về Thiên Chúa, và chúng con sẽ cảm tạ danh Chúa đến đời đời. Sê-la
\s5
\v 9 Nhưng giờ đây Chúa đã bỏ chúng con, khiến chúng con bị sỉ nhục, và Ngài không còn ra trận với quân đội chúng con.
\s5
\v 10 Chúa khiến chúng con phải tháo lui trước quân thù, và những kẻ ghét chúng con đoạt lấy chiến lợi phẩm cho mình.
\s5
\v 11 Chúa khiến chúng con giống như chiên bị đem đi giết thịt và đã rải chúng con ra giữa các dân.
\s5
\v 12 Chúa bán dân Ngài với giá rẻ; của cải Ngài chẳng thêm lên khi làm như vậy.
\s5
\v 13 Ngài khiến chúng con bị hàng xóm, láng giềng mắng mỏ, bị những người chung quanh phỉ báng, cười chê.
\s5
\v 14 Ngài làm cho chúng con thành ra cớ miệt thị giữa các nước, các dân nhìn chúng con đều lắc đầu.
\s5
\v 15 Cả ngày con phải đối diện với sỉ nhục, và sự hổ mặt đã bao phủ con
\s5
\v 16 vì phải nghe tiếng của kẻ mắng mỏ, miệt thị, vì cớ kẻ cừu địch và kẻ báo thù.
\s5
\v 17 Mọi điều này đã xảy đến cho chúng con; nhưng chúng con không quên Chúa hay làm điều sai quấy với giao ước Ngài.
\s5
\v 18 Lòng chúng con không lui đi; các bước chúng con không xa lìa đường lối Chúa.
\s5
\v 19 Thế nhưng Chúa lại khiến chúng con tan tác trong chỗ chó rừng và bao phủ chúng con bằng bóng sự chết.
\s5
\v 20 Nếu chúng con quên danh Thiên Chúa chúng con, hay giơ tay hướng về một thần xa lạ,
\s5
\v 21 Lẽ nào Thiên Chúa không phát hiện ra? Vì Ngài biết các bí mật của lòng.
\s5
\v 22 Thật, vì Chúa mà chúng con bi giết cả ngày; chúng con bị xem là chiên để giết thịt.
\s5
\v 23 Xin thức dậy, Chúa ôi, sao Ngài ngủ? Xin đứng dậy, đừng từ bỏ chúng con mãi mãi.
\s5
\v 24 Vì sao Ngài lại giấu mặt và quên đi sự khốn khổ, áp bức mà chúng con phải chịu?
\s5
\v 25 Vì chúng con đã tan ra thành tro bụi, thân thể chúng con dính chặt vào đất
\s5
\v 26 Xin hãy chỗi dậy giúp đỡ chúng con và vì lòng thành tín về giao ước Ngài mà cứu chuộc chúng con.
\s5
\c 45
\p
\v 1 Lòng tôi cảm hứng về một chủ đề hay; tôi sẽ xướng lên những lời mình viết về vua; lưỡi tôi là cây bút của văn sĩ đã sẵn sàng.
\s5
\v 2 Vua đẹp hơn các con cái loài người; ân sủng tràn ra trên môi người; vì đó chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã ban phước cho vua đời đời.
\s5
\v 3 Hỡi vua quyền thế, hãy giắt gươm bên hông, trong vinh quang và oai vệ.
\s5
\v 4 Với quyền uy, hãy vì sự chân thật, nhu mì và công chính mà xông lên cách khải hoàn; tay phải vua sẽ dạy cho vua những việc đáng sợ.
\s5
\v 5 Các mũi tên vua bén nhọn; các dân ngã rạp dưới chân vua; các mũi tên người đâm vào tim các cừu địch người.
\s5
\v 6 Lạy Thiên Chúa, ngôi Ngài trường tồn mãi mãi; vương quyền công bình chính là vương quyền nước Ngài.
\s5
\v 7 Vua yêu mến sự công chính và ghét sự gian ác; vì thế, Thiên Chúa, tức Thiên Chúa của vua, đã xức cho vua dầu vui mừng nhiều hơn các đồng bạn.
\s5
\v 8 Toàn thể trang phục vua tỏa ra mùi trầm hương, lô hội cùng nhục quế; từ các đền ngà những nhạc khí bằng dây khiến vua vui vẻ.
\s5
\v 9 Các công chúa thuộc hàng những phụ nữ cao quý của vua; bên tay phải vua là hoàng hậu mặc triều phục bằng vàng ô-phia.
\s5
\v 10 Này, con gái, hãy suy xét và lắng tai nghe; hãy quên đi thân tộc và nhà cha con.
\s5
\v 11 Như vậy, vua sẽ mến mộ nhan sắc con; người là chúa của con; hãy tôn kính người.
\s5
\v 12 Con gái thành Ty-rơ sẽ đem tặng phẩm đến; người giàu trong dân gian sẽ cầu ơn con.
\s5
\v 13 Con gái vương giả trong cung thật lộng lẫy; trang phục nàng được đính kết vàng.
\s5
\v 14 Ra mắt vua, nàng mặc áo thêu; các trinh nữ, là bạn tháp tùng nàng, sẽ được diện kiến vua.
\s5
\v 15 Họ sẽ vui mừng, hoan hỉ mà vào cung.
\s5
\v 16 Nối nghiệp các tổ phụ sẽ là con cái vua, được vua phong làm vương tử trên khắp đất.
\s5
\v 17 Tôi sẽ khiến cho danh tiếng vua được nhớ đến trải suốt các thế hệ; rồi các dân sẽ cảm tạ vua đời đời, mãi mãi.
\s5
\c 46
\p
\v 1 Thiên Chúa là nơi nương náu và sức mạnh của chúng tôi, sẵn sàng cứu giúp lúc gian nguy.
\s5
\v 2 Vì vậy, chúng tôi sẽ chẳng sợ, dù đất có biến đổi, dù đồi núi có bị rung chuyển rồi đổ xuống lòng biển,
\s5
\v 3 dù nước dưới biển có ầm ầm sôi bọt, dù các núi có lung lay khi trồi lên. Sê-la
\s5
\v 4 Có một con sông mà các dòng nước nó làm vui vẻ thành của Thiên Chúa, là nơi thánh, chỗ ngự của Đấng Chí Cao.
\s5
\v 5 Thiên Chúa ở giữa thành ấy; thành sẽ không bị chuyển dời; Thiên Chúa sẽ giúp đỡ thành, và Ngài sẽ làm vậy lúc hừng sáng.
\s5
\v 6 Các dân nổi giận, các nước bị lay động; Ngài lên tiếng phán thì đất tan chảy.
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu của các đạo binh ở cùng chúng tôi; Thiên Chúa của Gia-cốp là nơi nương náu của chúng tôi. Sê-la
\s5
\v 8 Hãy đến xem việc Chúa Hằng Hữu đã làm, sự hủy diệt Ngài gây ra trên đất.
\s5
\v 9 Ngài dẹp yên chiến tranh cho đến tận cuối đất; Ngài bẻ gãy cung và chặt giáo thành khúc; Ngài đốt cháy thuẫn, khiên.
\s5
\v 10 Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Thiên Chúa; Ta sẽ được tôn cao giữa các dân; Ta sẽ được tôn cao trên đất.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu của các đạo binh ở cùng chúng tôi; Thiên Chúa của Gia-cốp là nơi ẩn náu của chúng tôi. Sê-la
\s5
\c 47
\p
\v 1 Hỡi muôn dân, hãy vỗ tay; hãy reo mừng chiến thắng cho Thiên Chúa.
\s5
\v 2 Vì Chúa Hằng Hữu chí cao thật đáng sợ; Ngài là Vua Lớn trên toàn cõi đất.
\s5
\v 3 Ngài khiến các dân quy phục chúng tôi, khiến các nước phục dưới chân chúng tôi,
\s5
\v 4 Ngài chọn cơ nghiệp cho chúng tôi, là vinh quang của Gia-cốp, người mà Ngài yêu mến. Sê-la
\s5
\v 5 Thiên Chúa ngự lên trong tiếng reo vang, Chúa Hằng Hữu ngự lên giữa tiếng kèn thổi.
\s5
\v 6 Hãy hát ca ngợi Thiên Chúa, hãy ca hát chúc tụng; hãy hát ca ngợi Vua chúng tôi, hãy hát lên.
\s5
\v 7 Vì Thiên Chúa là Vua trên khắp cõi đất; hãy ca ngợi Ngài với sự hiểu biết.
\s5
\v 8 Thiên Chúa cai trị các nước; Thiên Chúa ngự trên ngai thánh Ngài.
\s5
\v 9 Các vương tử của các dân đã nhóm lại cùng dân của Thiên Chúa của Áp-ra-ham; vì các thuẫn che chở trái đất thuộc về Thiên Chúa; Ngài rất đáng được chúc tôn.
\s5
\c 48
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại, đáng được tán dương, trong thành của Thiên Chúa chúng ta, trên núi thánh Ngài.
\s5
\v 2 Niềm vui của cả đất, ấy chính núi Si-ôn, đẹp đẽ, uy nghi, tọa lạc về hướng bắc, tức thành của Vua lớn.
\s5
\v 3 Thiên Chúa đã tỏ mình ra là nơi nương náu tại các đền của thành
\s5
\v 4 Vì, kìa, các vua đã nhóm lại; họ cùng đi qua.
\s5
\v 5 Họ trông thấy, họ kinh ngạc; họ hoảng sợ, và vội vã bỏ đi.
\s5
\v 6 Tại đó họ run rẩy khiếp kinh, đau đớn như sản phụ sắp sinh con.
\s5
\v 7 Bằng ngọn gió đông, Ngài đánh vỡ các tàu Ta-rê-si.
\s5
\v 8 Điều chúng tôi đã nghe, thì chúng tôi cũng đã thấy trong thành Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, trong thành của Thiên Chúa chúng tôi; Thiên Chúa sẽ khiến thành vững lập đời đời. Sê-la
\s5
\v 9 Lạy Thiên Chúa, chúng con hồi tưởng lại sự thành tín của Chúa tại giữa đền thờ Ngài
\s5
\v 10 Thiên Chúa ôi, danh Chúa thể nào thì sự ca ngợi Chúa cũng thể ấy cho đến tận cùng trái đất; tay phải Ngài đầy dẫy sự công chính.
\s5
\v 11 Bởi các sắc lệnh công chính của Chúa, nguyện núi Si-ôn vui mừng, nguyện các con gái Giu-đa hoan hỉ. 11\. hãy để tâm quan sát tường thành, ngắm xem các đền đài nó, rồi thuật lại cho thế hệ sau.
\s5
\v 12 Hãy đi quanh núi Si-ôn, hãy dạo quanh thành; hãy đếm các ngọn tháp nó,
\s5
\v 14 Vì Thiên Chúa này là Thiên Chúa của chúng tôi đời đời, mãi mãi; Ngài sẽ dẫn dắt chúng tôi cho đến khi chết.
\s5
\c 49
\p
\v 1 Hỡi muôn dân, hãy nghe lời này; hỡi hết thảy dân cư trên thế giới, hãy lắng tai nghe,
\s5
\v 2 Cả giới bình dân lẫn người cao trọng, người giàu có lẫn kẻ nghèo thiếu.
\s5
\v 3 Miệng tôi sẽ nói lời khôn ngoan và điều tôi suy ngẫm trong lòng sẽ là sự hiểu biết.
\s5
\v 4 Tôi sẽ nghiêng tai nghe lời ẩn dụ; tôi sẽ dùng đàn hạc mở đầu chuyện ngụ ngôn mình.
\s5
\v 5 Vì sao tôi phải sợ ngày tai họa, khi tội lỗi vây bọc tôi bén gót?
\s5
\v 6 Vì sao tôi phải sợ những kẻ cậy của cải và khoe khoang về sự giàu có của mình? —
\s5
\v 7 Chắc chắn chẳng ai chuộc được anh em mình hoặc đóng tiền chuộc họ cho Thiên Chúa.
\s5
\v 8 Vì giá chuộc mạng sống người ta đắt quá và chẳng ai trả nổi món nợ của mình.
\s5
\v 9 Không ai có thể sống mãi để thân xác mình chẳng bị hư hoại.
\s5
\v 10 Vì người ta sẽ hư nát. Người khôn chết; kẻ dại và lũ cục súc đều bị diệt vong, để lại tài sản cho người khác.
\s5
\v 11 Trong lòng chúng nghĩ rằng dòng dõi chúng sẽ tiếp diễn mãi, và nơi mình sống sẽ tồn tại đến muôn đời; chúng lấy tên riêng đặt cho đất ruộng mình.
\s5
\v 12 Nhưng con người ta, dầu có tiền của, cũng không sống mãi; họ giống như loài thú phải diệt vong.
\s5
\v 13 Lối quan niệm này của họ là ngu dại; thế nhưng những người sống sau họ vẫn tán đồng kiểu nói ấy. Sê-la
\s5
\v 14 Họ bị định phải xuống âm phủ như đàn chiên; sự chết sẽ chăn dắt họ; người chính trực sẽ cầm quyền trên họ vào buổi sáng; âm phủ sẽ thiêu rụi thân xác họ và chẳng có chỗ cho họ sống.
\s5
\v 15 Nhưng Thiên Chúa sẽ chuộc mạng sống tôi khỏi quyền lực âm phủ; Ngài sẽ tiếp rước tôi. Sê-la
\s5
\v 16 Đừng sợ hãi khi ai đó giàu lên, khi quyền lực của nhà họ gia tăng;
\s5
\v 17 vì lúc chết đi, họ sẽ chẳng đem gì theo; quyền lực của họ sẽ suy giảm theo họ.
\s5
\v 18 Lúc sinh thời họ chúc phước cho linh hồn mình— và người ta ca ngợi anh khi anh biết sống cho mình—
\s5
\v 19 họ sẽ đi theo thế hệ của cha ông mình và họ sẽ chẳng bao giờ thấy lại ánh sáng.
\s5
\v 20 Kẻ giàu có nhưng không hiểu biết chẳng khác gì loài thú phải diệt vong.
\s5
\c 5
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy nghe lời con kêu cầu Ngài; xin quan tâm đến lời thở than của con.
\s5
\v 2 Lạy Vua và Thiên Chúa của con, xin nghe tiếng con kêu cầu, vì Ngài chính là Đấng con cầu khẩn.
\s5
\v 3 Lạy Chúa Hằng Hữu, vào buổi sáng Ngài nghe tiếng khóc của con; lúc ban mai, con sẽ dâng trình lời khẩn nguyện mình lên cho Ngài và ngóng trông nơi Ngài.
\s5
\v 4 Chắc hẳn Ngài không phải là một Thiên Chúa tán thành việc ác; kẻ ác sẽ không được Ngài tiếp đón.
\s5
\v 5 Kẻ kiêu ngạo sẽ không đứng nổi trước mặt Ngài; Ngài ghét mọi kẻ hành xử gian ác.
\s5
\v 6 Ngài sẽ hủy diệt kẻ nói dối; Chúa Hằng Hữu coi thường những kẻ hung dữ và dối giả.
\s5
\v 7 Nhưng về phần con, nhờ đức thành tín lớn lao của Ngài, con sẽ được vào nhà Ngài; với lòng thành kính, con sẽ hướng về đền thánh Ngài mà thờ lạy.
\s5
\v 8 Ôi Chúa, vì cớ các kẻ thù của con, xin hãy đưa con vào trong sự công bình của Ngài; xin ban bằng đường lối Ngài trước mặt con.
\s5
\v 9 Vì trong miệng chúng chẳng có sự thật; con người bên trong chúng thật gian ác; họng chúng nó là cái huyệt mở toang; chúng dùng lưỡi mình mà dua nịnh.
\s5
\v 10 Lạy Thiên Chúa, xin hãy tuyên phạt chúng; nguyện các mưu chước của chúng bị thất bại! Xin hãy đuổi chúng đi vì những vi phạm thật nhiều của chúng, vì chúng đã phản nghịch Ngài.
\s5
\v 11 Nhưng nguyện mọi kẻ nương náu nơi Ngài đều vui mừng; xin cho họ luôn lớn tiếng reo vui vì được Ngài bảo vệ; nguyện những ai yêu mến danh Ngài đều mừng rỡ trong Ngài.
\s5
\v 12 Vì, lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài sẽ ban phước cho người công chính; Ngài sẽ lấy ơn làm thuẫn bao phủ họ.
\s5
\c 50
\p
\v 1 Đấng quyền năng, là Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu, đã lên tiếng kêu gọi cả trái đất từ phương mặt trời mọc cho đến phương mặt trời lặn.
\s5
\v 2 Từ Si-ôn, sự hoàn hảo của vẻ đẹp, Thiên Chúa đã tỏa ánh hào quang.
\s5
\v 3 Thiên Chúa chúng tôi đến, Ngài không nín lặng; trước mặt Ngài, một ngọn lửa thiêu đốt, còn chung quanh Ngài là bão tố phong ba.
\s5
\v 4 Ngài cho gọi các tầng trời trên cao và đất bên dưới, để Ngài xét xử dân Ngài:
\s5
\v 5 “Hãy tập trung những người trung tín của Ta lại cho Ta, tức là những người đã dùng sinh tế lập giao ước với Ta.”
\s5
\v 6 Các tầng trời sẽ công bố sự công chính Ngài, vì chính Thiên Chúa là Đấng xử án. Sê-la
\s5
\v 7 “Hỡi dân Ta, hãy nghe, rồi Ta sẽ nói; Ta là Thiên Chúa, tức Thiên Chúa các con.
\s5
\v 8 Ta sẽ không trách phạt các con vì sinh tế của các con; những của lễ thiêu của các con luôn ở trước mặt Ta.
\s5
\v 9 Ta sẽ chẳng bắt bò đực khỏi nhà các con, hay dê đực khỏi chuồng trại các con.
\s5
\v 10 Vì tất cả thú rừng đều thuộc về Ta, cùng với súc vật trên ngàn ngọn đồi.
\s5
\v 11 Ta biết hết chim trên núi, và thú hoang ngoài đồng là của Ta.
\s5
\v 12 Nếu Ta đói, Ta cũng không cho các con biết, vì thế gian, cùng mọi vật trong đó, là của Ta.
\s5
\v 13 Ta ăn thịt bò đực, hay uống máu dê sao?
\s5
\v 14 Hãy dâng của lễ cảm tạ cho Thiên Chúa, và hoàn nguyện với Đấng Chí Cao.
\s5
\v 15 Trong ngày hoạn nạn hãy kêu cầu Ta; Ta sẽ giải cứu các con, rồi các con sẽ tôn vinh Ta.”
\s5
\v 16 Nhưng với kẻ ác, Thiên Chúa phán: “Sao các ngươi lại công bố các luật lệ Ta, dùng miệng mình nói về giao ước Ta,
\s5
\v 17 trong khi lại ghét sự chỉ dạy và vất bỏ lời Ta?
\s5
\v 18 Khi thấy kẻ trộm, các ngươi đồng tình với nó; các ngươi đồng lõa với kẻ ngoại tình.
\s5
\v 19 Miệng các ngươi nói lời ác, lưỡi các ngươi đặt điều dối gian.
\s5
\v 20 Các ngươi ngồi đó nói xấu anh em mình; các ngươi phao vu con trai của mẹ mình.
\s5
\v 21 Các ngươi đã làm những việc ấy mà Ta vẫn lặng thinh, nên các ngươi tưởng Ta giống các ngươi. Nhưng ta sẽ quở phạt các ngươi và phô bày mọi việc các ngươi đã làm ngay trước mặt các ngươi.
\s5
\v 22 Giờ thì hãy suy xét điều này, hỡi kẻ quên Thiên Chúa; nếu không, Ta sẽ xé nát các ngươi ra, và sẽ chẳng có người đến cứu giúp các ngươi:
\s5
\v 23 Ai dâng của lễ cảm tạ là tôn vinh Ta, và kẻ nào hoạch định đường lối mình cách chính đáng thì Ta sẽ cho thấy sự cứu rỗi của Thiên Chúa.”
\s5
\c 51
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con vì lòng thành tín về giao ước Ngài; vì Chúa đã rất nhiều lần tỏ ra khoan dung, xin Ngài bôi xóa các sự vi phạm của con.
\s5
\v 2 Xin hãy rửa con sạch hết điều xấu xa, và thanh tẩy con khỏi tội lỗi mình.
\s5
\v 3 Vì con biết các sự vi phạm của con, và tội lỗi con vẫn luôn ở trước mặt con.
\s5
\v 4 Con đã đắc tội với Chúa, chỉ với Chúa thôi, và đã làm điều ác trước mặt Ngài; lời Chúa nói rất phải; sự phán xét của Ngài là đúng.
\s5
\v 5 Kìa, con được sinh ra trong tội lỗi; ngay khi mẹ con mang thai con thì con đã ở trong tội.
\s5
\v 6 Này, Chúa muốn sự chân thật bên trong và Ngài dạy con sự khôn ngoan trong nơi sâu kín của lòng con.
\s5
\v 7 Xin dùng cây bài hương tẩy uế con, thì con sẽ được sạch; xin Chúa rửa con, thì con sẽ trắng hơn tuyết.
\s5
\v 8 Xin cho con nghe sự hoan hỉ và vui sướng, để các xương cốt mà Chúa đã bẻ được vui mừng.
\s5
\v 9 Xin Chúa hãy ẩn mặt khỏi các tội con và bôi xóa hết mọi việc làm xấu xa của con.
\s5
\v 10 Lạy Chúa, xin tạo nên trong con một tấm lòng thanh sạch, và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng.
\s5
\v 11 Xin đừng xua đuổi con khỏi trước mặt Chúa, và đừng cất Thánh Linh Ngài khỏi con.
\s5
\v 12 Xin Chúa phục hồi lại cho con niềm vui của sự cứu rỗi Ngài, và dùng tinh thần sẵn sàng mà nâng đỡ con.
\s5
\v 13 Rồi con sẽ dạy các đường lối Ngài cho kẻ vi phạm, và kẻ có tội sẽ quay về với Chúa.
\s5
\v 14 Lạy Thiên Chúa của sự cứu rỗi con, xin tha con khỏi tội làm đổ máu, rồi con sẽ lớn tiếng vui mừng về sự công chính của Chúa.
\s5
\v 15 Hỡi Chúa, xin mở miệng con, rồi môi con sẽ ca ngợi Ngài.
\s5
\v 16 Vì Chúa chẳng ưa thích sinh tế, nếu vậy thì con đã dâng rồi; Ngài chẳng vui về của lễ thiêu.
\s5
\v 17 Của lễ mà Thiên Chúa muốn là một tâm linh tan vỡ. Thiên Chúa ôi, Ngài sẽ không xem thường một tấm lòng tan vỡ biết hối lỗi.
\s5
\v 18 Xin Chúa theo ý tốt Ngài mà làm lành cho Si-ôn; xin hãy dựng lại các tường thành Giê-ru-sa-lem.
\s5
\v 19 Rồi Chúa sẽ ưa thích các sinh tế công chính, các của lễ thiêu và của lễ toàn thiêu; khi ấy, người dân chúng con sẽ dâng bò đực trên bàn thờ Ngài.
\s5
\c 52
\p
\v 1 Kẻ cường quyền kia, vì sao ngươi lại hãnh diện khi gây chuyện? Sự thành tín của Thiên Chúa thể hiện mỗi ngày.
\s5
\v 2 Nói lời dối trá, lưỡi ngươi toan tính sự tàn hại chẳng khác gì dao cạo bén.
\s5
\v 3 Ngươi ưa chuộng điều ác hơn điều thiện, thích nói dối hơn là nói lời công chính.
\s5
\v 4 Cái lưỡi dối trá kia, ngươi ưa thích mọi lời cắn nuốt người khác.
\s5
\v 5 Thiên Chúa cũng sẽ hủy diệt ngươi đời đời; Ngài sẽ kéo ngươi lên, vặt ngươi ra khỏi trại mình và nhổ ngươi khỏi đất của người sống.
\s5
\v 6 Người công chính cũng sẽ thấy mà sợ hãi; họ sẽ cười, và nói:
\s5
\v 7 “Chà, đây là kẻ không lấy Thiên Chúa làm sức lực mình, mà lại cậy vào của cải và khiến mình vững mạnh trong sự gian ác.”
\s5
\v 8 Nhưng về phần mình, tôi giống như cây ô-liu xanh tươi trong nhà Thiên Chúa; tôi sẽ tin cậy sự thành tín của Thiên Chúa đến đời đời, mãi mãi.
\s5
\v 9 Lạy Thiên Chúa, con sẽ tạ ơn Ngài đến muôn đời vì những việc Ngài đã làm. Con sẽ hy vọng nơi danh Chúa trước mặt những người trung tín của Ngài, vì danh Ngài thật tốt đẹp.
\s5
\c 53
\p
\v 1 Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: “Không có Thiên Chúa đâu.” Chúng đồi bại và phạm tội đáng kinh tởm; chẳng có kẻ nào làm lành.
\s5
\v 2 Thiên Chúa từ trời nhìn xuống con cái loài người để xem có ai hiểu biết, tìm kiếm Ngài chăng.
\s5
\v 3 Tất cả họ đều đã trở lui, tất cả đều ra ô uế; chẳng có ai làm lành, một người cũng không.
\s5
\v 4 Những kẻ phạm tội đó, những kẻ ăn nuốt dân ta như ăn bánh và chẳng cầu khẩn Thiên Chúa, chúng chẳng biết gì sao?
\s5
\v 5 Chúng hoảng sợ, dầu chẳng có lý do gì; vì Thiên Chúa sẽ vung vãi xương cốt của kẻ nào đóng trại gây chiến với anh em; các kẻ đó sẽ bị xấu hổ vì Thiên Chúa đã khước từ chúng.
\s5
\v 6 Ồ, ước gì sự cứu rỗi Y-sơ-ra-ên sẽ đến từ Si-ôn! Khi Thiên Chúa đưa con dân bị tù đày của Ngài trở về, thì Gia-cốp sẽ hân hoan và Y-sơ-ra-ên sẽ vui sướng!
\s5
\c 54
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa, bởi danh Chúa, xin hãy cứu con, và xét xử con bằng quyền năng Ngài.
\s5
\v 2 Thiên Chúa ôi, xin hãy nghe lời cầu nguyện con; xin lắng tai nghe các lời của miệng con.
\s5
\v 3 Vì những kẻ xa lạ đã nổi lên chống lại con, và những kẻ bạo tàn đã tìm hại mạng sống con; chúng không đặt Thiên Chúa trước mặt mình. Sê-la
\s5
\v 4 Kìa, Thiên Chúa là Đấng cứu giúp tôi; Chúa là Đấng nâng đỡ tôi.
\s5
\v 5 Ngài sẽ báo trả điều dữ cho các kẻ cừu địch tôi; bởi lòng thành tín về giao ước Chúa, xin hãy tiêu diệt chúng!
\s5
\v 6 Con sẽ dâng lên Chúa một của lễ tự nguyện. Lạy Chúa Hằng Hữu, con sẽ cảm tạ danh Ngài, vì danh Chúa thật tốt đẹp.
\s5
\v 7 Vì Chúa đã giải cứu con khỏi mọi gian truân, nên mắt con đã nhìn các kẻ thù mình cách hả hê.
\s5
\c 55
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin hãy lắng tai nghe lời cầu nguyện của con; xin đừng ẩn mặt khi con kêu cầu.
\s5
\v 2 Xin Chúa hãy lưu ý đến con và đáp lời con; con không yên nghỉ được trong các nỗi khốn cùng của mình
\s5
\v 3 vì tiếng của các kẻ cừu địch con, vì sự áp bức của kẻ ác; vì chúng gây rắc rối cho con và bức hại con khi chúng nổi giận.
\s5
\v 4 Lòng con run rẩy trong con, và các nỗi kinh hoàng của sự chết đã giáng xuống trên con.
\s5
\v 5 Con phải run sợ khi sự kinh hãi bao trùm con.
\s5
\v 6 Con đã nói: “Ồi, ước gì mình có cánh giống chim bồ câu! Lúc ấy mình sẽ bay đi và được yên nghỉ.
\s5
\v 7 Thật, lúc ấy mình sẽ đi thật xa; mình sẽ ở lại trong hoang mạc. Sê-la
\s5
\v 8 Mình sẽ vội chạy đến nơi ẩn náu để tránh bão táp, phong ba.”
\s5
\v 9 Chúa ôi, xin hãy hủy diệt chúng đi, và làm rối loạn ngôn ngữ của chúng, vì con đã thấy bạo hành và xung đột trong thành.
\s5
\v 10 Ngày và đêm chúng đi lại trên các vách thành; tội lỗi và điều ác ở giữa thành.
\s5
\v 11 Sự gian ác ở trong thành; sự áp chế và gian dối chưa rời khỏi các đường phố.
\s5
\v 12 Chẳng phải kẻ thù mắng mỏ tôi, vì nếu vậy tôi vẫn chịu được; cũng không phải kẻ ghét tôi nổi lên chống lại tôi, vì nếu vậy tôi đã ẩn mình đi.
\s5
\v 13 Nhưng chính người, kẻ ngang hàng với tôi, kẻ đồng hành cùng tôi, người bạn thân thiết của tôi.
\s5
\v 14 Chúng ta đã từng gắn bó với nhau; chúng ta đã từng đi dạo trong nhà của Thiên Chúa với đám đông dân chúng.
\s5
\v 15 Hãy để sự chết thình lình giáng trên chúng; nguyện chúng cứ sống như vậy mà xuống âm ti, vì sự gian ác ở tại nơi chúng ở, ngay giữa vòng chúng nó.
\s5
\v 16 Về phần tôi, tôi sẽ kêu cầu Thiên Chúa, và Chúa Hằng Hữu sẽ cứu tôi.
\s5
\v 17 Sáng, trưa, chiều tối, tôi kêu nài, than thở; Chúa sẽ nghe tiếng tôi.
\s5
\v 18 Ngài sẽ giải cứu mạng sống tôi bình an khỏi chiến trận nhắm vào tôi; vì những kẻ chiến đấu chống lại tôi thật là nhiều.
\s5
\v 19 Thiên Chúa, Đấng trị vì từ trước vô cùng, sẽ nghe và đáp trả chúng. Sê-la Những con người đó chẳng bao giờ thay đổi; chúng không kính sợ Thiên Chúa.
\s5
\v 20 Bạn tôi đã giơ tay chống nghịch những người sống hòa bình với hắn; hắn không tôn trọng giao ước mình đã lập.
\s5
\v 21 Miệng hắn trơn như mỡ, nhưng lòng hắn hằn học; lời hắn êm dịu hơn dầu, nhưng lại là thanh gươm tuốt trần.
\s5
\v 22 Hãy trao các gánh nặng mình cho Chúa Hằng Hữu, rồi Ngài sẽ nâng đỡ con; Ngài chẳng bao giờ để cho người công chính bị chao đảo.
\s5
\v 23 Nhưng Chúa, lạy Thiên Chúa, Ngài sẽ đưa kẻ ác xuống hầm hủy diệt; những kẻ khát máu và lừa dối sẽ không sống được phân nửa đời người, còn tôi sẽ tin cậy Ngài.
\s5
\c 56
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin hãy thương xót con, vì có người đang tấn công con; suốt ngày những kẻ đó tranh đấu và áp chế con.
\s5
\v 2 Suốt cả ngày, các cừu địch con cứ muốn nuốt chửng con; vì có nhiều kẻ ngạo mạn chống nghịch con.
\s5
\v 3 Khi con sợ hãi thì con sẽ đặt lòng tin cậy nơi Ngài.
\s5
\v 4 Con nhờ cậy Thiên Chúa, lời Chúa con ca ngợi; con sẽ không sợ hãi; người phàm làm gì được con?
\s5
\v 5 Trọn cả ngày chúng xuyên tạc lời con; mọi ý tưởng của chúng đều nhằm làm hại con.
\s5
\v 6 Chúng tụ tập lại, rình rập, và theo dõi các bước con, y như là chúng chờ dịp làm hại mạng sống con.
\s5
\v 7 Xin đừng để chúng thoát tội. Lạy Thiên Chúa, xin đánh đổ các dân trong cơn giận Ngài.
\s5
\v 8 Chúa đếm các bước đi lưu lạc của con, và đựng nước mắt con trong chai Ngài; chẳng phải chúng đều có trong sổ sách của Ngài đó sao?
\s5
\v 9 Rồi các kẻ cừu địch con sẽ thối lui vào ngày con kêu cầu Chúa; con biết là Thiên Chúa bênh vực con.
\s5
\v 10 Trong Thiên Chúa, lời Ngài con ca ngợi trong Chúa Hằng Hữu, lời Ngài con ca ngợi
\s5
\v 11 Chính nơi Thiên Chúa con đặt lòng tin cậy; con sẽ không sợ hãi; người nào làm gì được con?
\s5
\v 12 Con vẫn biết mình phải thực hiện các điều đã hứa nguyện với Ngài; con sẽ dâng những của lễ tạ ơn Chúa.
\s5
\v 13 Vì Ngài đã giải cứu con khỏi chết; Ngài đã giữ cho chân con khỏi té ngã, để con có thể bước đi trước mặt Thiên Chúa trong ánh sáng của kẻ sống.
\s5
\c 57
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin thương xót con, xin hãy thương xót con, vì con nương náu nơi Chúa cho đến khi các nỗi khốn khổ này qua đi. Con cứ ở dưới cánh Ngài để được che chở cho đến khi cơn hủy diệt này kết thúc.
\s5
\v 2 Tôi sẽ kêu cầu Thiên Chúa Chí Cao, tức là Thiên Chúa thực hiện mọi điều cho tôi.
\s5
\v 3 Từ trời Ngài sẽ ban ơn cứu giúp tôi, Ngài nổi giận với những kẻ chà đạp tôi; Sê-la Thiên Chúa sẽ tỏ cho tôi lòng nhân từ yêu thương và đức thành tín của Ngài.
\s5
\v 4 Mạng sống tôi ở giữa bầy sư tử; tôi đang ở giữa những kẽ sẵn sàng ăn nuốt mình. Tôi đang sống giữa những kẻ có răng như giáo và tên, có lưỡi như thanh gươm sắc bén.
\s5
\v 5 Lạy Thiên Chúa, nguyện Ngài được tôn cao hơn các tầng trời; nguyện vinh quang Ngài trổi hơn toàn trái đất.
\s5
\v 6 Chúng giăng lưới gài chân con; con thật khốn khổ. Chúng đào hố trước mặt con. Chính chúng lại ngã vào trong đó! Sê-la
\s5
\v 7 Lòng con vững chắc, Lạy Thiên Chúa, lòng con vững chắc. Con sẽ hát, vâng, con sẽ hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 8 Hỡi tấm lòng chính trực của ta, hãy thức tỉnh; hỡi cây sáo và đàn hạc, hãy dậy đi; ta sẽ đánh thức hừng đông.
\s5
\v 9 Lạy Chúa, con sẽ dâng lời cảm tạ Ngài giữa các dân; con sẽ hát ca ngợi Ngài giữa các nước.
\s5
\v 10 Vì tình yêu vững bền của Chúa thật lớn lao, chạm đến các tầng trời, và sự thành tín Ngài lên đến các tầng mây.
\s5
\v 11 Lạy Thiên Chúa, nguyện Chúa được tôn cao hơn các tầng trời; nguyện vinh quang Ngài được tôn cao trên khắp trái đất.
\s5
\c 58
\p
\v 1 Các ngươi, là những kẻ cai trị, nói lời công chính sao? Các ngươi xét xử ngay thẳng sao?
\s5
\v 2 Không đâu, các ngươi phạm sự gian ác trong lòng, dùng tay gieo sự bạo hành khắp cả xứ.
\s5
\v 3 Kẻ ác bị lạc đường ngay từ trong lòng mẹ; ngay từ khi sinh ra, chúng đã lầm lạc, nói lời dối trá.
\s5
\v 4 Nọc độc chúng giống như nọc rắn; chúng giống như loài rắn hổ điếc bít tai nó lại
\s5
\v 5 chẳng chịu nghe tiếng của thầy dụ rắn, cho dù họ tài giỏi đến đâu.
\s5
\v 6 Thiên Chúa ôi, xin bẻ răng trong miệng chúng; Chúa Hằng Hữu ôi, xin nhổ nanh của lũ sư tử tơ.
\s5
\v 7 Nguyện chúng tan ra như nước; khi chúng bắn tên, nguyện đó như các mũi tên vô mục tiêu.
\s5
\v 8 Nguyện chúng giống như con ốc sên chảy ra và tiêu đi, như đứa trẻ sinh non chẳng bao giờ thấy ánh mặt trời.
\s5
\v 9 Trước khi nồi các người thấy nóng từ gai cháy, thì Ngài dùng gió lốc đùa chúng đi, gai xanh cũng như gai đang cháy.
\s5
\v 10 Người công chính sẽ vui mừng khi nhìn thấy sự báo trả của Thiên Chúa; người sẽ rửa chân trong máu của kẻ ác,
\s5
\v 11 để rồi người ta nói rằng: “Thật, có phần thưởng cho người công chính; thật, có một Thiên Chúa phán xét trái đất.”
\s5
\c 59
\p
\v 1 Thiên Chúa của con ôi, xin giải cứu con khỏi kẻ thù mình; xin đặt con lên cao cách xa những kẻ nổi lên chống lại con.
\s5
\v 2 Xin giữ con bình an trước kẻ chuyên phạm tội, và cứu con khỏi những kẻ khát máu.
\s5
\v 3 Vì, kìa, chúng rình hại mạng sống con Chúa Hằng Hữu ôi, những kẻ làm ác mạnh bạo kia nhóm hiệp lại chống nghịch con, nhưng không phải vì sự vi phạm hay tội lỗi con.
\s5
\v 4 Chúng chuẩn bị xông vào con mặc dầu con chẳng có lỗi lầm gì; xin Chúa thức dậy cứu giúp con, và xem thấy.
\s5
\v 5 Lạy Chúa, là Thiên Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên, xin hãy thức dậy và hình phạt mọi dân tộc; xin Chúa đừng thương xót kẻ vi phạm gian ác nào. Sê-la
\s5
\v 6 Chúng quay trở lại lúc chiều tối, chúng tru như loài chó và đi vòng quanh thành.
\s5
\v 7 Kìa, từ nơi miệng chúng phun ra; thanh gươm ở trên môi chúng, vì chúng bảo: “Có ai nghe thấy chúng ta?”
\s5
\v 8 Nhưng Chúa, là Chúa Hằng Hữu, cười chúng nó; Ngài chế nhạo mọi dân tộc.
\s5
\v 9 Lạy Thiên Chúa, là sức lực của con, con sẽ chú tâm vào Ngài; Ngài là ngọn tháp cao của con.
\s5
\v 10 Thiên Chúa ta sẽ lấy lòng thành tín về giao ước đối xử với ta; Thiên Chúa sẽ làm thành ước muốn của ta đối với các cừu địch mình.
\s5
\v 11 Xin đừng giết chúng nó, e dân con sẽ quên chăng. Lạy Thiên Chúa là thuẫn che chở con, xin dùng quyền năng Ngài khiến chúng tan tác và đánh hạ chúng.
\s5
\v 12 Vì các tội của miệng chúng và những lời từ môi chúng, vì những lời nguyền rủa và dối trá chúng nói ra, nguyện chúng bị mắc bẫy trong sự kiêu căng mình.
\s5
\v 13 Xin hãy tiêu diệt chúng khi Ngài nổi giận, để chúng không còn nữa; hãy cho chúng biết rằng Thiên Chúa cai trị tại Gia-cốp cho đến tận cùng trái đất. Sê-la
\s5
\v 14 Vào lúc chiều tối, chúng quay lại, tru lên như loài chó và đi rảo quanh thành.
\s5
\v 15 Chúng lang thang đây đó kiếm ăn và gầm gừ như một con chó nếu không được no nê.
\s5
\v 16 Nhưng con sẽ hát về sức mạnh Chúa, vào buổi sáng con sẽ hát về tình yêu vững bền của Ngài! vì Chúa là ngọn tháp cao và nơi ẩn náu của con trong ngày hoạn nạn.
\s5
\v 17 Con sẽ hát ca ngợi Chúa, là sức lực của con; vì Thiên Chúa là ngọn tháp cao của con, Thiên Chúa thành tín giữ lời giao ước.
\s5
\c 6
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, đang cơn giận Ngài xin đừng quở trách con, cũng đừng sửa phạt con trong cơn thịnh nộ của Ngài.
\s5
\v 2 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin thương xót con, vì con yếu ớt; xin chữa lành con, vì xương cốt con run rẩy.
\s5
\v 3 Linh hồn con cũng rất bối rối. Nhưng Ngài, Chúa Hằng Hữu ôi tình trạng này sẽ tiếp diễn trong bao lâu nữa?
\s5
\v 4 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin quay lại giải thoát con. Xin cứu con vì cớ lòng thành tín về giao ước của Ngài!
\s5
\v 5 Vì trong cõi chết, người ta không nhớ đến Chúa. Dưới âm ti, ai sẽ cảm tạ Ngài?
\s5
\v 6 Con kiệt sức vì than thở. Suốt cả đêm, gường con đẫm lệ; con làm trôi gường mình vì nước mắt.
\s5
\v 7 Mắt con hoen mờ vì sầu thảm; chúng yếu đi vì mọi kẻ thù con.
\s5
\v 8 Hãy tránh xa tôi đi, hỡi những kẻ làm ác các người; vì Chúa Hằng Hữu đã nghe tiếng tôi kêu khóc.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu đã nghe lời cầu khẩn của tôi; Chúa Hằng Hữu đã nhậm lời nguyện cầu của tôi.
\s5
\v 10 Mọi kẻ thù của tôi sẽ hổ thẹn và bối rối. Chúng sẽ tháo lui và bị bẽ mặt.
\s5
\c 60
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, Ngài đã bỏ chúng con; Chúa đã khiến chúng con tan tác; Ngài đã nổi giận; xin hãy phục hồi chúng con.
\s5
\v 2 Chúa đã khiến đất rung chuyển; Ngài đã xé toạc nó ra; xin Chúa hàn gắn lại những chỗ nứt nẻ của nó, vì nó đang lung lay.
\s5
\v 3 Chúa đã khiến dân Ngài gặp nguy khốn; Chúa đã khiến chúng con uống rượu xây xẩm.
\s5
\v 4 Chúa đã ban cờ xí cho những người tôn kính Ngài để họ giương ra chống lại những kẻ mang cung tên. Sêla
\s5
\v 5 Xin Chúa dùng tay phải Ngài cứu chúng con, và đáp lời con, để những người yêu mến Chúa được giải cứu.
\s5
\v 6 Trong sự thánh khiết Ngài, Thiên Chúa đã phán: “Ta sẽ hân hoan; Ta sẽ chia cắt Si-chem và phân thung lũng Su-cốt ra.
\s5
\v 7 Ga-la-át là của Ta, Ma-na-se là của Ta; Ép-ra-im cũng là mũ bảo vệ đầu Ta; còn Giu-đa là vương trượng của Ta.
\s5
\v 8 Mô-áp là chậu rửa của Ta; giày thì Ta ném xuống đầu Ê-đôm; Ta sẽ hô vang chiến thắng vì cớ Phi-li-tin.
\s5
\v 9 Ai sẽ đem Ta vào thành vững chắc? Ai sẽ dẫn Ta đến Ê-đôm?”
\s5
\v 10 Nhưng còn Ngài, lạy Thiên Chúa, không phải Ngài đã bỏ chúng con sao? Ngài đâu có đi ra trận mạc cùng đạo quân chúng con.
\s5
\v 11 Xin giúp chúng con chống lại quân thù, vì sự giúp đỡ của người ta là vô ích.
\s5
\v 12 Nhờ sự giúp đỡ của Chúa chúng con sẽ chiến thắng; Ngài giẫm đạp các kẻ thù của chúng con.
\s5
\c 61
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin hãy nghe tiếng kêu của con; xin Ngài chú ý đến lời cầu nguyện con.
\s5
\v 2 Từ chốn tận cùng của trái đất, con sẽ kêu cầu cùng Chúa khi lòng con bối rối; xin dẫn con đến vầng đá cao hơn mình.
\s5
\v 3 Vì Chúa là nơi ẩn náu của con, một đồn lũy vững chắc trước kẻ thù.
\s5
\v 4 Xin để con sống trong lều thánh của Chúa mãi mãi; xin cho con nương náu tại nơi trú ẩn dưới cánh Chúa. Sê-la
\s5
\v 5 Vì chính Ngài, lạy Thiên Chúa, Chúa đã nghe lời khấn hứa của con; Ngài đã ban cho con cơ nghiệp dành cho những kẻ tôn kính danh Ngài.
\s5
\v 6 Chúa sẽ thêm lên tuổi thọ cho vua; các năm của vua trường tồn qua nhiều thế hệ.
\s5
\v 7 Vua sẽ còn lại đời đời trước mặt Thiên Chúa.
\s5
\v 8 Con sẽ hát ca ngợi danh Ngài mãi mãi để có thể hằng ngày thực hiện các lời hứa nguyện mình.
\s5
\c 62
\p
\v 1 Tôi yên lặng chờ đợi chỉ một mình Thiên Chúa; sự cứu rỗi tôi từ Ngài mà đến.
\s5
\v 2 Chỉ một mình Ngài là vầng đá tôi và sự cứu rỗi tôi; Ngài là tòa tháp cao của tôi, tôi sẽ không bị chấn động.
\s5
\v 3 Cả bọn các người sẽ còn tấn công một người, xô anh ta như bức vách nghiêng, như hàng rào xiêu vẹo, cho đến bao giờ?
\s5
\v 4 Chúng hội ý với anh ta chỉ để hạ bệ anh ta khỏi vị trí cao trọng của mình; chúng thích nói dối; trên môi miệng chúng chúc phúc cho anh ta, nhưng trong lòng chúng rủa sả anh ta. Sê-la
\s5
\v 5 Tôi yên lặng chờ đợi chỉ một mình Thiên Chúa; vì hy vọng tôi đặt nơi Ngài.
\s5
\v 6 Chỉ một mình Ngài là vầng đá tôi và sự cứu rỗi tôi; Ngài là ngọn tháp cao của tôi; tôi sẽ không nao núng.
\s5
\v 7 Sự cứu rỗi tôi và vinh quang của tôi ở nơi Thiên Chúa; vầng đá sức mạnh và nơi nương náu của tôi ở trong Thiên Chúa.
\s5
\v 8 Hỡi thần dân, hãy tin cậy Ngài trong mọi lúc; hãy dốc đổ lòng mình ra trước mặt Ngài; Thiên Chúa là nơi nương náu của chúng ta. Sê-la
\s5
\v 9 Kẻ hạ đẳng là hư không, kẻ thượng lưu là ảo mộng; họ chẳng là gì trên cán cân; gộp lại để đem cân, họ còn nhẹ hơn cả lông hồng.
\s5
\v 10 Đừng cậy vào sự tàn bạo hay cướp bóc; cũng đừng hy vọng hão huyền nơi sự giàu có, vì chúng sẽ chẳng đem lại gì; đừng hướng lòng mình vào đó.
\s5
\v 11 Thiên Chúa phán một lần, tôi có nghe hai lần, rằng: quyền năng thuộc về Thiên Chúa.
\s5
\v 12 Lạy Chúa, sự thành tín về giao ước cũng thuộc về Ngài, vì Ngài báo trả mọi người tùy việc họ làm.
\s5
\c 63
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa của con! Trong một xứ khô khan, cực nhọc, không có nước, con tha thiết tìm kiếm Chúa, linh hồn con khát khao Ngài, xác thể con trông mong Ngài.
\s5
\v 2 Cho nên con đã nhìn ngắm Ngài trong nơi thánh để thấy được quyền năng và vinh quang Ngài.
\s5
\v 3 Vì sự thành tín về giao ước Chúa tốt hơn sự sống, nên môi con sẽ ca ngợi Ngài.
\s5
\v 4 Vậy, con sẽ tán dương Ngài trong lúc còn sống; con sẽ nhân danh Chúa mà giơ cao tay lên.
\s5
\v 5 Như thể được ăn bữa tủy xương và mỡ; với đôi môi vui mừng, miệng con sẽ ca ngợi Ngài,
\s5
\v 6 khi trên giường con nghĩ đến Chúa và suy ngẫm về Ngài trong đêm.
\s5
\v 7 Vì Chúa là sự cứu giúp con, và con được hoan hỉ trong bóng cánh Ngài.
\s5
\v 8 Con bám lấy Chúa; tay phải Ngài nâng đỡ con.
\s5
\v 9 Nhưng những kẻ tìm diệt mạng sống con sẽ sa xuống chốn tận cùng của đất.
\s5
\v 10 Chúng sẽ bị phó cho những kẻ cầm gươm, và sẽ trở thành mồi cho chó rừng.
\s5
\v 11 Còn vua sẽ vui mừng nơi Thiên Chúa; mọi người cậy Ngài mà thề sẽ hãnh diện về Ngài, nhưng miệng của những kẻ nói lời dối trá sẽ bị ngăn lại.
\s5
\c 64
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin nghe tiếng con, xin nghe lời con ta thán; xin Chúa giữ mạng sống con cho khỏi sợ hãi kẻ thù nghịch.
\s5
\v 2 Xin gìn giữ con khỏi mưu chước lén lút của kẻ làm ác, khỏi sự náo động của kẻ làm chuyện tội lỗi.
\s5
\v 3 Chúng đã mài bén lưỡi mình như thanh gươm; chúng đã nhắm các mũi tên mình, tức những lời cay độc,
\s5
\v 4 để từ trong chỗ nấp bắn vào người vô tội; chúng bất ngờ bắn vào người chẳng sợ hãi gì.
\s5
\v 5 Chúng tự khích lệ mình trong mưu ác; chúng lén lút bàn tính gài bẫy người; chúng nói: “Ai thấy chúng ta được?”
\s5
\v 6 Chúng nghĩ ra những kế hoạch đầy tội lỗi; chúng bảo: “Chúng ta đã cẩn thận lên kế hoạch xong xuôi.” Ý tưởng bên trong và lòng người ta thật thâm sâu.
\s5
\v 7 Nhưng Thiên Chúa sẽ bắn chúng nó; chúng sẽ bất ngờ bị thương tích vì các mũi tên Ngài.
\s5
\v 8 Chúng sẽ bị đánh ngã, vì chính lưỡi chúng chống lại chúng; mọi người trông thấy chúng sẽ đều lắc đầu.
\s5
\v 9 Mọi người sẽ sợ hãi và công bố công việc của Thiên Chúa. Người ta sẽ suy ngẫm cách sáng suốt về những gì Ngài đã làm.
\s5
\v 10 Người công chính sẽ vui mừng về Chúa Hằng Hữu và sẽ nương náu mình nơi Ngài; mọi kẻ có lòng ngay thẳng sẽ hãnh diện về Ngài.
\s5
\c 65
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa ở Si-ôn, chúng con trông đợi ca ngợi Ngài; chúng con sẽ thực hiện lời đã hứa nguyện với Ngài.
\s5
\v 2 Hỡi Chúa là Đấng nghe lời cầu nguyện, mọi loài xác phàm sẽ đến với Ngài.
\s5
\v 3 Tội lỗi thắng hơn chúng con; về các sự vi phạm của chúng con, Chúa sẽ tha thứ.
\s5
\v 4 Phước cho người mà Chúa chọn đem đến gần Ngài để họ được ở trong sân đền Ngài. Chúng con sẽ được no đầy vật tốt lành của nhà Ngài, tức đền thánh Ngài.
\s5
\v 5 Lạy Thiên Chúa của sự cứu rỗi chúng con, trong sự công chính, Chúa sẽ đáp lời chúng con mà thực hiện những việc lạ lùng; Ngài vốn là niềm tin tưởng của những nơi cùng tận trái đất và của những người sống xa bên kia biển.
\s5
\v 6 Vì chính Chúa khiến cho đồi núi vững chắc, chính Chúa nịt lưng bằng sức mạnh. Chính Ngài dẹp yên tiếng ầm ầm của sóng biển, cùng sự náo động của các dân.
\s5
\v 8 Những kẻ sống tại các nơi cùng tận trái đất đều sợ hãi trước chứng cớ công việc Chúa; Chúa khiến phương đông và phương tây đều vui mừng.
\s5
\v 9 Chúa đến cứu giúp địa cầu; Chúa tưới ướt nó; Chúa khiến nó nên màu mỡ; dòng sông của Thiên Chúa đầy nước; Ngài cung cấp cho loài người ngũ cốc khi chuẩn bị trái đất.
\s5
\v 10 Chúa tưới ướt các luống cày, khỏa đất trên mặt luống; Ngài ban mưa khiến chúng tơi xốp; Ngài xuống phước cho các mầm chồi mọc lên.
\s5
\v 11 Chúa lấy sự nhân từ Ngài làm mão triều đội cho năm tháng; các vết xe Chúa để lại sự màu mỡ cho đất.
\s5
\v 12 Sương nhỏ xuống trên các đồng cỏ nơi hoang mạc, và núi đồi được mặc lấy sự vui mừng.
\s5
\v 13 Đồng cỏ tràn ngập chiên cừu; thung lũng tràn ngập ngũ cốc; chúng đều reo vui, ca hát.
\s5
\c 66
\p
\v 1 Hỡi cả trái đất, hãy lớn tiếng reo mừng cho Thiên Chúa;
\s5
\v 2 Hãy hát rao ra vinh quang của danh Ngài; hãy ca ngợi Ngài cách rạng rỡ.
\s5
\v 3 Hãy thưa với Thiên Chúa: “Các công việc Ngài thật đáng sợ! Bởi quyền năng rất lớn của Chúa, các kẻ thù nghịch Chúa đều sẽ quy phục Ngài.
\s5
\v 4 Cả trái đất sẽ thờ phượng Chúa và hát ca ngợi Ngài; họ sẽ hát mừng danh Ngài.” Sê-la
\s5
\v 5 Hãy đến xem các công việc của Thiên Chúa; Ngài thật đáng sợ trong các việc Ngài làm cho con cái loài người.
\s5
\v 6 Ngài làm cho biển thành ra đất khô; họ đi bộ ngang qua sông; tại đó chúng tôi vui mừng về Ngài.
\s5
\v 7 Bởi sức mạnh mình, Chúa cai trị đời đời; mắt Ngài dõi theo các nước; những kẻ phản nghịch chớ tự cao. Sê-la
\s5
\v 8 Hỡi thần dân, hãy tán tụng Thiên Chúa; hãy làm cho tiếng ca ngợi Ngài vang ra.
\s5
\v 9 Ngài giữ cho chúng ta còn sống và không để chân chúng ta trượt ngã.
\s5
\v 10 Vì, lạy Thiên Chúa, Ngài đã thử nghiệm chúng con; Chúa đã thử chúng con như thử bạc.
\s5
\v 11 Chúa đưa chúng con vào bẫy lưới; Ngài bắt chúng con mang gánh nặng khinh khủng.
\s5
\v 12 Chúa khiến người ta cưỡi trên đầu chúng con; chúng con đi qua lửa, qua nước, nhưng rồi Ngài đem chúng con ra nơi rộng rãi.
\s5
\v 13 Con sẽ đem theo các của lễ thiêu vào nhà Chúa; con sẽ trả cho Chúa các lời hứa nguyện
\s5
\v 14 do chính môi miệng con nói ra khi con gặp hoạn nạn.
\s5
\v 15 Con sẽ dâng cho Chúa các con vật béo tốt làm của lễ thiêu với mùi thơm của chiên đực. con sẽ dâng lên bò đực và dê. Sê-la
\s5
\v 16 Hỡi tất cả những người kính sợ Thiên Chúa, hãy đến nghe tôi công bố những việc Chúa đã làm cho linh hồn tôi.
\s5
\v 17 Miệng tôi kêu cầu Ngài, còn lưỡi tôi ca ngợi Ngài.
\s5
\v 18 Nếu tôi có thấy tội trong lòng mình, thì Chúa đã chẳng nghe tôi.
\s5
\v 19 Nhưng thật Thiên Chúa đã nghe; Ngài đã lưu ý tiếng kêu cầu của tôi.
\s5
\v 20 Chúc tụng Thiên Chúa, vì Ngài không gạt bỏ lời cầu nguyện tôi, cũng không rút lại lòng thành tín về giao ước về giao ước Ngài dành cho tôi.
\s5
\c 67
\p
\v 1 Nguyện Thiên Chúa thương xót chúng ta, ban phước cho chúng ta, và khiến mặt Ngài soi sáng trên chúng ta Sê-la
\s5
\v 2 để các đường lối Chúa được tỏ ra trên đất, tức sự cứu rỗi của Ngài giữa các dân.
\s5
\v 3 Nguyện các dân ca ngợi Chúa; nguyện mọi dân tôn vinh Chúa.
\s5
\v 4 Ồ, nguyện các nước vui sướng, hát mừng, vì Chúa sẽ xét xử các dân bằng sự công chính, và cai trị các nước trên đất. Sê-la
\s5
\v 5 Lạy Thiên Chúa, nguyện các dân ca ngợi Chúa; nguyện mọi dân tộc chúc tụng Ngài.
\s5
\v 6 Đất sinh ra hoa lợi và Thiên Chúa, tức Thiên Chúa chúng tôi, đã ban phước cho chúng tôi.
\s5
\v 7 Thiên Chúa đã ban phước cho chúng tôi, và mọi nơi tận cùng trái đất đều tôn vinh Ngài.
\s5
\c 68
\p
\v 1 Nguyện Thiên Chúa trỗi dậy; nguyện các kẻ thù Ngài bị tan tác; nguyện những kẻ ghét Ngài phải trốn chạy trước mặt Ngài.
\s5
\v 2 Khói bị bạt đi thể nào thì xin Chúa cũng đánh bạt chúng đi thể ấy; sáp tan chảy trước lửa ra sao thì nguyện chúng cũng tiêu vong như vậy trước sự hiện diện của Thiên Chúa.
\s5
\v 3 Nhưng người công bình vui sướng; nguyện họ hớn hở trước mặt Thiên Chúa; nguyện họ hoan hỉ, hạnh phúc.
\s5
\v 4 Hãy hát cho Thiên Chúa, hãy hát ca ngợi danh Ngài; hãy đắp đường cho Đấng cưỡi ngựa qua các đồng bằng của thung lũng sông Giô-đanh; danh Ngài là Chúa Hằng Hữu; hãy vui mừng trước mặt Ngài.
\s5
\v 5 Thiên Chúa trong nơi thánh Ngài đang ngự là cha kẻ mồ côi, là quan tòa của người góa bụa.
\s5
\v 6 Thiên Chúa đặt kẻ cô độc vào trong gia đình; Ngài dùng lời ca tiếng hát đem kẻ tù tội ra; nhưng kẻ phản nghịch thì sống tại vùng đất khô cháy.
\s5
\v 7 Thiên Chúa ôi, khi Chúa đi ra trước dân Ngài, khi Ngài băng qua hoang mạc, Sê-la
\s5
\v 8 Thì đất rung chuyển; các tầng trời cũng đổ mưa trước mặt Thiên Chúa, trước mặt Thiên Chúa khi Ngài đến Si-na-i, trước mặt Thiên Chúa, là Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 9 Thiên Chúa ôi, Ngài đã ban mưa dồi dào; Ngài làm cho vững chắc sản nghiệp mình khi nó hao mòn.
\s5
\v 10 Dân Ngài sống tại đó; lạy Thiên Chúa, bởi lòng nhân từ Ngài đã ban nó cho kẻ nghèo.
\s5
\v 11 Chúa ban các mạng lệnh, và những kẻ loan truyền chúng là một đoàn quân lớn.
\s5
\v 12 Các vua của các đạo quân trốn chạy, và phụ nữ ở nhà chờ chia chiến lợi phẩm:
\s5
\v 13 những chim bồ câu dát bạc có cánh bằng vàng ròng. Khi một số người trong các ngươi ở lại giữa các chuồng chiên, sao các người lại làm vậy?
\s5
\v 14 Đấng Toàn Năng đánh tan tác các vua tại đó, như tuyết rơi trên núi Sanh-môn.
\s5
\v 15 Núi Ba-san là ngọn núi vững chắc; cao nguyên Ba-san là ngọn núi cao.
\s5
\v 16 Hỡi vùng đồi núi cao kia, sao ngươi nhìn ngọn núi mà Thiên Chúa muốn làm nơi ngự Ngài cách ganh tị? Thật, Thiên Chúa sẽ ngự tại đó đời đời.
\s5
\v 17 Xe chiến mã của Thiên Chúa là hai vạn, đông hàng ngàn, hàng vạn; Chúa ở giữa chúng nó tại trong nơi thánh, như tại Si-na-i.
\s5
\v 18 Chúa đã ngự lên nơi cao, dẫn theo những kẻ bị giam cầm; Chúa nhận lễ vật từ giữa loài người, thậm chí từ những kẻ chống nghịch Ngài, để Ngài, là Thiên Chúa Hằng Hữu, có thể ngự tại đó.
\s5
\v 19 Đáng chúc tụng Chúa, Đấng hằng ngày mang gánh nặng của chúng con, tức Thiên Chúa, sự cứu rỗi của chúng con. Sê-la
\s5
\v 20 Thiên Chúa chúng con là Đấng cứu rỗi; Chúa Hằng Hữu là Đấng có thể giải cứu chúng con khỏi sự chết.
\s5
\v 21 Nhưng Thiên Chúa sẽ đánh vỡ đầu các kẻ thù Ngài, đánh xuyên da đầu của những kẻ miệt mài phạm tội với Ngài.
\s5
\v 22 Chúa phán: “Ta sẽ đem các kẻ thù Ta từ Ba-san về; Ta sẽ đem chúng về từ các vực sâu của biển
\s5
\v 23 để các con chà nát kẻ thù mình, nhúng chân mình vào máu, và để lưỡi của chó nhà các con cũng có phần nơi kẻ thù các con.”
\s5
\v 24 Lạy Thiên Chúa, chúng nó đã nhìn thấy đám rước nghênh tiếp Thiên Chúa của con, là Vua con, đi vào trong nơi thánh.
\s5
\v 25 Các ca sĩ đi đầu, các nhạc công theo sau, và chính giữa là các thanh nữ vỗ trống lắc.
\s5
\v 26 Hãy chúc tụng Thiên Chúa giữa các hội chúng; hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, hỡi các con cháu thật của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 27 Trước tiên là Bên-gia-min, bộ tộc nhỏ nhất, rồi những lãnh đạo Giu-đa cùng các đoàn dân họ, lãnh đạo của Sa-bu-lôn và lãnh đạo của Nép-ta-li..
\s5
\v 28 Hỡi Y-sơ-ra-ên, Thiên Chúa các con đã ban lệnh cho quân đội các con; lạy Thiên Chúa, xin tỏ cho chúng con biết quyền năng Ngài, như Ngài đã làm trước kia.
\s5
\v 29 Xin bày tỏ cho chúng con quyền năng Ngài từ đền thờ Chúa tại Giê-ru-sa-lem, là nơi các vua mang lễ vật đến cho Ngài.
\s5
\v 30 Nơi trận mạc, xin hãy quở mắng lũ thú hoang trong các đám sậy, tức các dân tộc, là đám bò đực và bò con. Xin hãy hạ nhục chúng và buộc chúng phải mang lễ vật đến cho Ngài; xin đánh tan tác các dân thích gây chiến.
\s5
\v 31 Các vương tử sẽ từ Ai Cập mà ra; Ê-thi-ô-bi sẽ vội đưa tay ra cho Thiên Chúa.
\s5
\v 32 Hỡi các nước trên đất, hãy ca hát cho Thiên Chúa; Sê-la Hãy hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 33 Tức cho Đấng cưỡi trên trời của các tầng trời vốn đã có từ những thời xa xưa; kìa, Ngài cất tiếng phán đầy quyền năng.
\s5
\v 34 Hãy quy sức mạnh cho Thiên Chúa; sự oai nghiêm Ngài ở trên Y-sơ-ra-ên, và uy lực Ngài ở trên bầu trời.
\s5
\v 35 Lạy Thiên Chúa, Chúa thật đáng sợ trong nơi thánh Ngài; Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên Chúa ban sức mạnh và quyền năng cho dân Ngài. Đáng chúc tụng Thiên Chúa.
\s5
\c 69
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin Chúa cứu con; vì các dòng nước đang đe dọa mạng sống con.
\s5
\v 2 Con lún sâu trong vũng lầy, chẳng có chỗ tựa chân. Con chìm sâu trong nước, bị nước lũ tràn qua.
\s5
\v 3 Con mòn mỏi vì kêu khóc; cổ họng khô rốc; mắt con mờ đi vì mãi trông đợi Thiên Chúa mình.
\s5
\v 4 Những kẻ ghét con vô cớ đông hơn tóc trên đầu con; những kẻ muốn tiêu diệt con, trở lòng thù địch với con vì những lý do sai trái, chúng thật hùng mạnh; con đã phải trả lại thứ mà con chẳng lấy cắp.
\s5
\v 5 Lạy Thiên Chúa, Ngài biết sự ngu dại của con, và tội lỗi con không giấu được Chúa.
\s5
\v 6 Hỡi Chúa là Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, xin đừng để những người trông đợi Chúa vì con mà bị hổ thẹn; lạy Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên, xin chớ để những kẻ tìm kiếm Ngài vì con phải chịu nhuốc nhơ.
\s5
\v 7 Vì cớ Chúa, con bị trách mắng; con phải chịu hổ mặt.
\s5
\v 8 Con đã trở nên kẻ xa lạ đối với anh em mình, như ngoại kiều đối với các con của mẹ mình.
\s5
\v 10 Vì lòng nhiệt thành về nhà Chúa thiêu đốt con, lời quở mắng của những kẻ quở mắng Chúa đổ xuống trên con. 10\. Khi con than khóc và kiêng ăn, thì họ lăng nhục con.
\s5
\v 11 Khi mặc đồ tang chế thì con trở thành đối tượng cười chê của họ.
\s5
\v 12 Những kẻ ngồi ở cổng thành bàn tán về con; con trở thành bài ca cho các bợm rượu.
\s5
\v 13 Nhưng về phần con, ôi Chúa Hằng Hữu, lời cầu nguyện con hướng về Ngài, vào thời điểm Ngài vui nghe; xin hãy đáp lời con theo như sự cứu rỗi đáng tin cậy của Ngài.
\s5
\v 14 Xin hãy kéo con ra khỏi vũng lầy và đừng để con bị sụp lún; xin hãy đem con xa khỏi những kẻ ghét con và cứu con khỏi vùng nước sâu.
\s5
\v 15 Xin chớ để các cơn nước lũ ập lên con, cũng đừng để vực sâu nuốt chửng con. Xin đừng để miệng hố lấp lại trên con.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy đáp lời con, vì sự thành tín về giao ước Ngài thật tốt lành; vì lòng thương xót Ngài đối cùng con, xin hãy quay về phía con.
\s5
\v 17 Xin đừng giấu mặt Chúa khỏi kẻ tôi tớ Ngài, vì con đang gặp hoạn nạn; xin mau mau đáp lời con.
\s5
\v 18 Xin Chúa lại gần và cứu con. Vì cớ các kẻ thù của con, xin hãy chuộc con.
\s5
\v 19 Chúa biết sự quở mắng, sự hổ thẹn, cùng sự nhuốc nhơ mà con phải chịu; các kẻ cừu địch con đều ở trước mặt Ngài.
\s5
\v 20 Sự quở trách khiến lòng con tan nát; con thấy thật nặng nề; con tìm người thương cảm mình, nhưng chẳng có ai; con kiếm người ủi an, nhưng không thấy.
\s5
\v 21 Chúng cho con chất độc làm thức ăn; khi con khát, chúng cho con uống dấm.
\s5
\v 22 Nguyện bàn ăn trước mặt chúng trở thành cái thòng lọng; khi chúng tưởng mình bình an, nguyện nó trở nên chiếc bẫy sập.
\s5
\v 23 Nguyện mắt chúng bị che mờ không còn thấy; và xin cứ khiến lưng chúng nó run rẩy luôn.
\s5
\v 24 Xin Chúa giáng cơn thạnh nộ Ngài trên chúng, và khiến sự giận dữ Chúa bắt kịp chúng nó.
\s5
\v 25 Nguyện chỗ ở chúng bị hoang tàn; nguyện cho không ai sống trong lều chúng nó.
\s5
\v 26 Vì chúng bức hại kẻ Chúa đã đánh; chúng đi thuật lại nỗi đau của người Chúa đã gây thương tích.
\s5
\v 27 Xin Chúa hãy kết tội chúng vì đã phạm hết tội này đến tội khác; xin đừng để chúng được dự vào chiến thắng công bình của Chúa.
\s5
\v 28 Nguyện tên chúng bị xóa khỏi sách sự sống và không được ghi chung với người công chính.
\s5
\v 29 Nhưng con nghèo khó và buồn thảm; Thiên Chúa ôi, nguyện sự cứu rỗi Ngài đưa con lên nơi cao.
\s5
\v 30 Con sẽ dùng bài hát mà chúc tán danh Thiên Chúa, và dùng lời tạ ơn mà tôn cao Ngài.
\s5
\v 31 Điều đó khiến Chúa hài lòng hơn là bò đực thiến hoặc bò đực có sừng cùng móng guốc.
\s5
\v 32 Người nhu mì đã thấy được việc ấy và vui sướng; hỡi những kẻ tìm kiếm Thiên Chúa, nguyện tấm lòng các người được sống.
\s5
\v 33 Vì Chúa Hằng Hữu nghe kẻ thiếu thốn và chẳng khinh rẻ những kẻ tù của Ngài.
\s5
\v 34 Nguyện trời và đất, cùng biển và mọi vật di chuyển trong đó, đều ca ngợi Ngài.
\s5
\v 35 Vì Thiên Chúa sẽ cứu Si-ôn và xây lại tường thành của Giu-đa; dân chúng sẽ sống tại đó và được sở hữu nó.
\s5
\v 36 Con cháu của các tôi tớ Ngài sẽ thừa hưởng nó; và những người yêu mến danh Ngài sẽ sống tại đó.
\s5
\c 7
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của con, con nương náu nơi Ngài! Xin cứu con khỏi mọi kẻ săn đuổi con và giải cứu con.
\s5
\v 2 Nếu không, họ sẽ vồ lấy con như sư tử, xé con thành từng mảnh mà chẳng ai khác có thể giải cứu.
\s5
\v 3 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của con, nếu con có làm việc này và tay con có tội.
\s5
\v 4 nếu con có cư xử sai trái với bất kỳ ai ăn ở hòa hảo với mình, hay vô tâm hãm hại bất cứ ai chống lại mình, thì xin nghe lời con nói
\s5
\v 5 Xin để kẻ thù săn đuổi mạng sống con và bắt lấy; nguyện hắn giày đạp mạng sống con dưới đất và cứ bỏ mặc con nằm trong tro bụi nhục nhã. Sê-la
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu ôi, xin trỗi dậy giữa cơn giận Ngài; xin đứng lên đối đầu với cơn thịnh nộ của các kẻ thù nghịch con; xin hãy thức dậy bênh vực con và thi hành các sắc lệnh Ngài đã ban ra cho chúng.
\s5
\v 7 Các nước đã hội hiệp lại chung quanh Ngài; xin một lần nữa đảm nhiệm vị thế chính đáng của Ngài trên họ.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ôi, xin xét xử các dân; lạy Chúa Hằng Hữu, Đấng Tối Cao, xin Ngài bênh vực con, vì con công chính và vô tội.
\s5
\v 9 Xin chấm dứt các việc ác của kẻ dữ, nhưng làm cho người công chính được vững lập, lạy Thiên Chúa công bình, Đấng dò xét lòng và trí người ta.
\s5
\v 10 Thuẫn chở che con chính là Thiên Chúa, là Đấng cứu người có lòng ngay thẳng.
\s5
\v 11 Thiên Chúa là quan án công minh, là Thiên Chúa mỗi ngày đều phẫn nộ.
\s5
\v 12 Nếu người ta không ăn năn, thì Thiên Chúa sẽ mài gươm và giương cung sẵn sàng.
\s5
\v 13 Ngài chuẩn bị vũ khí chống lại họ; Ngài châm lửa cho các mũi tên mình.
\s5
\v 14 Cứ nghĩ đến kẻ thai nghén điều ác, cưu mang việc hủy phá, sinh ra lời dối trá độc hại.
\s5
\v 15 Hắn đào hầm và khoét thật lớn, và rồi lại té xuống hố mình đã đào.
\s5
\v 16 Toan tính tàn hại của hắn sẽ đổ lại trên đầu hắn, việc bạo lực hắn sẽ giáng xuống trên đầu hắn.
\s5
\v 17 Con sẽ cảm tạ Chúa Hằng Hữu vì công lý của Ngài; con sẽ hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu Chí Cao.
\s5
\c 70
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin cứu con! Lạy Chúa Hằng Hữu, xin Ngài mau đến giúp đỡ con.
\s5
\v 2 Nguyện những kẻ tìm hại mạng sống con bị hổ thẹn và sỉ nhục; nguyện những kẻ vui thích về nỗi đau của tôi phải thối lui và chịu nhuốc nhơ
\s5
\v 3 Những kẻ nói: “A-ha, a-ha” đó, nguyện chúng phải thối lui vì mắc cỡ.
\s5
\v 4 Nguyện tất cả những ai tìm kiếm Chúa được vui mừng và sung sướng trong Ngài; nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa luôn nói: “Thiên Chúa thật đáng ca ngợi.”
\s5
\v 5 Còn con đây nghèo nàn, thiếu thốn; lạy Thiên Chúa, xin mau đến với con; Chúa là nguồn giúp đỡ con, và Ngài giải cứu con. Chúa Hằng Hữu ôi, xin đừng trì hoãn.
\s5
\c 71
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, con nương náu nơi Ngài; xin đừng để con bị hổ thẹn.
\s5
\v 2 Xin giải cứu con và cho con được an toàn trong sự công chính của Chúa; xin Chúa nghiêng tai qua và cứu con.
\s5
\v 3 Xin Chúa làm vầng đá nương náu để con luôn có thể đến trú ẩn; Chúa đã ban lệnh cứu con, vì Chúa là vầng đá của con, đồn lũy của con.
\s5
\v 4 Thiên Chúa của con ôi, xin giải cứu con khỏi tay người ác, khỏi tay của kẻ bất chính, tàn độc.
\s5
\v 5 Vì, hỡi Chúa Chúa Hằng Hữu, Ngài là hy vọng của con. Con đã tin cậy Ngài từ khi còn bé.
\s5
\v 6 Nhờ Chúa mà con được đỡ nâng từ trong lòng mẹ; chính Chúa đã đem con ra khỏi lòng mẹ con; sự ca ngợi con luôn dành cho Chúa.
\s5
\v 7 Con là tấm gương cho nhiều người; Chúa là nơi ẩn náu vững chắc của con.
\s5
\v 8 Trọn cả ngày miệng con sẽ nói lời ca ngợi Chúa và tôn kính Ngài.
\s5
\v 9 Xin đừng bỏ con lúc con về già; xin đừng lìa con khi sức lực con suy yếu.
\s5
\v 10 Vì các cừu địch con đang bàn tàn về con; những kẻ tìm hại mạng sống con đang cùng mưu tính.
\s5
\v 11 Chúng bảo: “Thiên Chúa đã bỏ nó; cứ săn đuổi và bắt nó đi, vì chẳng có ai cứu nó đâu.”
\s5
\v 12 Lạy Thiên Chúa, xin đừng cách xa con; Thiên Chúa của con ôi, xin mau cứu giúp con.
\s5
\v 13 Nguyện những kẻ muốn hại mạng sống con phải mắc cỡ và bị hủy diệt, những kẻ tìm cách hãm hại con, nguyện chúng bị chỉ trích và chịu sỉ nhục.
\s5
\v 14 Nhưng con sẽ luôn hy vọng nơi Chúa và sẽ cứ thêm lời ca ngợi Ngài.
\s5
\v 15 Trọn cả ngày, miệng con sẽ nói về sự công chính cùng sự cứu rỗi của Ngài, dù con không hiểu được.
\s5
\v 16 Con sẽ đến chỗ họ thuật lại các công việc quyền năng của Chúa, là Chúa Hằng Hữu; con sẽ nói về sự công chính của Chúa, chỉ của Ngài mà thôi.
\s5
\v 17 Thiên Chúa ôi, Ngài đã dạy con từ khi con còn trẻ; thậm chí cho đến nay con vẫn công bố các việc kỳ diệu của Ngài.
\s5
\v 18 Thật, ngay cả khi con đã già cả đầu bạc, Thiên Chúa ôi, xin đừng bỏ con, vì con vẫn rao ra sức lực của Chúa cho đời sau, quyền năng Chúa cho mọi người sẽ đến sau này.
\s5
\v 19 Thiên Chúa ôi, sự công chính Ngài cũng cao ngất; lạy Thiên Chúa, Ngài là Đấng đã làm những việc diệu kỳ, có ai giống như Chúa.
\s5
\v 20 Ngài, là Đấng đã khiến con gặp bao khó khăn, sẽ khiến chúng con hồi sinh và lại đem chúng con lên từ các vực sâu dưới đất.
\s5
\v 21 Nguyện Chúa thêm cho con sự tôn trọng; xin hãy quay qua an ủi con.
\s5
\v 22 Thiên Chúa con ôi, con cũng sẽ dùng đàn hạc mà cảm tạ Chúa vì đức thành tín của Ngài; hỡi Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, con sẽ dùng đàn hạc mà hát ca ngợi Ngài.
\s5
\v 23 Môi miệng con sẽ lớn tiếng reo mừng khi con hát ca ngợi Chúa kể cả linh hồn con, là thứ mà Ngài đã cứu chuộc.
\s5
\v 24 Trọn cả ngày, lưỡi con cũng sẽ nói về sự công chính của Chúa, vì những kẻ tìm cách hãm hại con đã bị làm cho xấu hổ và bối rối.
\s5
\c 72
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, xin hãy ban cho vua các sắc lệnh công chính của Ngài, tức sự công chính của Chúa dành cho con trai vua.
\s5
\v 2 Nguyện vua xét xử dân Chúa bằng sự công chính và kẻ nghèo khó của Ngài cách công bằng.
\s5
\v 3 Nguyện các núi đem thái bình đến cho dân chúng; nguyện các đồi đem lại sự công chính.
\s5
\v 4 Nguyện vua đoán xét người nghèo trong dân chúng; nguyện người cứu giúp con cái kẻ thiếu thốn và đập tan kẻ áp bức.
\s5
\v 5 Bao lâu còn mặt trời, mặt trăng, thì nguyện họ cứ tôn kính Chúa qua mọi thế hệ.
\s5
\v 6 Nguyện người giống như mưa sa xuống đồng cỏ mới phát, như mưa rào tưới đất.
\s5
\v 7 Nguyện người công chính được thạnh vượng trong thời của vua, và nguyện có bình an khắp chốn cho đến khi trăng không còn nữa.
\s5
\v 8 Nguyện vua sẽ cai quản từ biển này đến biển kia, từ sông cái cho đến tận cùng trái đất.
\s5
\v 9 Nguyện những kẻ sống nơi hoang mạc phải sấp mình xuống trước vua; nguyện các kẻ thù người phải liếm bụi đất.
\s5
\v 10 Nguyện vua của Ta-rê-si và của các đảo phải tiến cống cho người; nguyện các vua của Sa-ba và Sê-ba phải dâng lễ vật cho người.
\s5
\v 11 Thật, nguyện tất cả các vua đều sấp mình xuống trước người; nguyện mọi dân tộc đều phục vụ người.
\s5
\v 12 Vì vua giúp đỡ kẻ thiếu thốn đang kêu khóc và người nghèo chẳng được ai khác tiếp cứu.
\s5
\v 13 Vua cảm thương người nghèo thiếu, cứu mạng người túng ngặt.
\s5
\v 14 Vua cứu mạng họ khỏi tình cảnh áp bức, bạo hành, và xem máu họ là quý báu.
\s5
\v 15 Nguyện vua cứ được sống! Nguyện người ta sẽ dâng vàng Sa-ba cho người. Nguyện dân chúng cứ cầu nguyện cho người luôn; nguyện Thiên Chúa ban phước cho người trọn cả ngày.
\s5
\v 16 Nguyện ngũ cốc sẽ dư dật trên đất, nguyện bông trái nó đong đưa trước gió trên các đỉnh núi giống các cây của Li-ban, và dân chúng trong các thành được thạnh vượng như cỏ trên đất.
\s5
\v 17 Nguyện danh vua cứ còn mãi; bao lâu còn mặt trời thì nguyện danh người sẽ còn bấy lâu. Nguyện mọi nước sẽ xưng người là có phước.
\s5
\v 18 Nguyện Thiên Chúa Hằng Hữu, là Thiên Chúa của Y-sơ-ra-ên, được chúc tụng, chỉ một mình Ngài làm những việc kỳ diệu.
\s5
\v 19 Nguyện danh vinh hiển Ngài được chúc tụng đến đời đời, nguyện cả trái đất đầy dẫy vinh quang Ngài. A-men! A-men!
\s5
\v 20 Kết thúc các bài cầu nguyện của Đa-vít, con trai Y-sai. Quyển Ba
\s5
\c 73
\p
\v 1 Thiên Chúa thật tốt lành với Y-sơ-ra-ên, với những kẻ có lòng trong sạch.
\s5
\v 2 Riêng con, con suýt bị sẩy chân; đôi bàn chân đỡ con suýt vấp ngã
\s5
\v 3 vì con ganh tị với lũ kiêu ngạo khi thấy sự hưng thịnh của kẻ ác.
\s5
\v 4 Vì cho đến khi qua đời chúng chẳng phải đau đớn gì, mà lại cứ mạnh khỏe, no đủ.
\s5
\v 5 Chúng không phải chịu nặng gánh như người khác; chúng chẳng gặp hoạn nạn như mọi người.
\s5
\v 6 Chúng lấy sự kiêu hãnh làm trang sức như đeo dây chuyền cổ; chúng lấy bạo lực mặc cho mình như mặc áo.
\s5
\v 7 Sự đui mù ấy sinh ra tội lỗi; các ý tưởng gian tà đi qua lòng chúng nó.
\s5
\v 8 Chúng nhạo báng và nói lời độc ác; chúng hãnh diện hăm dọa dùng bạo lực.
\s5
\v 9 Chúng xúc phạm cõi trời, và lưỡi chúng tán đủ thứ chuyện dưới đất.
\s5
\v 10 Cho nên dân Thiên Chúa quay hướng về chúng, uống cạn lời của chúng.
\s5
\v 11 Chúng bảo: “Làm sao Thiên Chúa biết được? Ngài biết chuyện đang xảy ra hay sao?
\s5
\v 12 Xin lưu ý: Những người này là những kẻ gian ác; lúc nào chúng cũng thảnh thơi, ngày càng giàu thêm lên.
\s5
\v 13 Việc con canh giữ lòng mình và rửa tay trong sự vô tội hẳn chẳng ích lợi gì.
\s5
\v 14 Vì suốt cả ngày con phải chịu hoạn nạn và sáng nào cũng bị sửa phạt.
\s5
\v 15 Nếu con có bảo: “Mình sẽ nói các lời ấy,” thì con hẳn đã phản bội lại thế hệ này của con dân Chúa.
\s5
\v 16 Dầu con đã cố hiểu những việc này, nhưng quá khó đối với con.
\s5
\v 17 Rồi con đi vào nơi thánh của Thiên Chúa và nhận ra số phận của chúng.
\s5
\v 18 Hẳn là Chúa đã đặt chúng ở nơi trơn trượt; Chúa khiến chúng rơi vào cảnh hoang phế.
\s5
\v 19 Chỉ trong chốc lát mà chúng đã thành ra chốn tiêu điều! Chúng tận số và bị kết liễu thật kinh khủng.
\s5
\v 20 Chúng giống như giấc mộng sau khi người ta thức dậy; Chúa ôi, khi Ngài trỗi dậy, Chúa sẽ chẳng quan tâm gì đến các giấc mơ đó.
\s5
\v 21 Vì lòng con buồn thảm, và con bị thương rất nặng.
\s5
\v 22 Con ngu dốt và thiếu sự hiểu biết; con giống như một con thú vô tri trước mặt Ngài.
\s5
\v 23 Nhưng con vẫn luôn ở cùng Chúa; Chúa nắm tay phải con.
\s5
\v 24 Chúa sẽ dùng lời khuyên lơn mà dẫn dắt con, sau đó tiếp con vào sự vinh hiển.
\s5
\v 25 Trên trời, con có ai trừ ra Chúa? Dưới đất này con chẳng khao khát ai ngoài Ngài.
\s5
\v 26 Thịt và lòng con suy yếu, nhưng Thiên Chúa mãi mãi là sức lực của lòng con.
\s5
\v 27 Những kẻ xa cách Chúa sẽ tiêu vong; Chúa sẽ hủy diệt mọi kẻ bất trung với Ngài.
\s5
\v 28 Còn riêng con, việc duy nhất con cần làm là đến gần Thiên Chúa. Con đã lấy Chúa, là Chúa Hằng Hữu, làm nơi ẩn náu mình. Con sẽ công bố mọi việc Ngài đã làm.
\s5
\c 74
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, sao Ngài hất hủi chúng con mãi? Vì sao cơn giận Ngài bùng cháy đối với bầy chiên của đồng cỏ Ngài?
\s5
\v 2 Xin Chúa nhớ lại dân Ngài mà Ngài đã cứu chuộc từ thời xa xưa, được Ngài mua lại để làm sản nghiệp riêng cho Ngài, cùng núi Si-ôn, nơi Chúa ngự,
\s5
\v 3 Xin Chúa đến xem cảnh hoang phế hoàn toàn, tức mọi hư hại mà quân thù đã gây ra trong nơi thánh.
\s5
\v 4 Các kẻ thù Chúa gầm rống ngay tại nơi Ngài đã định; chúng trương cờ xí của chúng lên.
\s5
\v 5 Chúng dùng rìu chặt đốn như trong rừng rậm.
\s5
\v 6 Chúng đập nát, phá tan mọi vật chạm trổ; với búa rìu, chúng cứ thế mà đập.
\s5
\v 7 Chúng đốt cháy nơi thánh của Chúa; chúng mạo phạm chỗ Ngài ngự,
\s5
\v 8 Chúng nói trong lòng: “Chúng ta sẽ hủy diệt hết.” Chúng thiêu sạch mọi nơi họp mặt trong xứ.
\s5
\v 9 Chúng con không còn thấy các dấu lạ của Thiên Chúa; chẳng còn nhà tiên tri, và chẳng ai trong chúng con biết tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu.
\s5
\v 10 Thiên Chúa ôi, kẻ thù sẽ còn sỉ nhục Chúa cho đến bao giờ? Phải chăng kẻ thù sẽ nói phạm danh Ngài mãi mãi?
\s5
\v 11 Vì sao Chúa giữ tay mình lại, tức tay phải Ngài? Xin Chúa hãy rút tay phải Ngài ra khỏi áo và hủy diệt chúng.
\s5
\v 12 Nhưng Thiên Chúa vẫn là vua của con từ thời xa xưa, đem đến sự cứu rỗi trên đất.
\s5
\v 13 Chúa dùng sức mình chia biển ra; Ngài đập vỡ đầu của lũ quái vật dưới nước.
\s5
\v 14 Ngài nghiền nát những cái đầu của Lê-vi-a-than, ban nó làm thức ăn cho dân sống nơi hoang mạc.
\s5
\v 15 Chúa khơi nguồn cho khe, suối; Ngài khiến sông rạch cạn khô.
\s5
\v 16 Ngày là của Chúa, đêm cũng thuộc về Ngài; Chúa đặt mặt trời, mặt trăng vào vị trí của nó.
\s5
\v 17 Ngài định đặt mọi ranh giới của trái đất; Ngài làm nên mùa hạ cùng mùa đông.
\s5
\v 18 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy nhớ lại kẻ thù đã sỉ nhục Ngài như thế nào, một dân ngu dại đã xúc phạm danh Chúa.
\s5
\v 19 Xin đừng phó sinh mạng bồ câu của Chúa cho thú hoang. Xin chớ mãi quên mạng sống của dân đang bị áp bức của Ngài.
\s5
\v 20 Xin Chúa hãy nhớ lại giao ước Ngài, vì các vùng tối tăm trên đất đầy những chỗ bạo hành.
\s5
\v 21 Xin chớ để kẻ bị áp bức phải trở về xấu hổ; nguyện người nghèo khó, khốn cùng ca ngợi danh Chúa.
\s5
\v 22 Thiên Chúa ôi, xin hãy trỗi dậy; xin Chúa bảo vệ danh dự của Ngài; xin nhớ lại thể nào những kẻ ngu dại đã sỉ nhục Chúa suốt cả ngày.
\s5
\v 23 Xin đừng quên tiếng của các cừu địch Chúa, hay là tiếng gầm rú của những kẻ liên tục xem thường Ngài.
\s5
\c 75
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, chúng con dâng lời cảm tạ Ngài, vì Chúa mặc thị sự hiện diện của Ngài; người ta nói về các việc kỳ diệu của Chúa.
\s5
\v 2 Đến thời điểm đã định, Ta sẽ xét xử công bằng.
\s5
\v 3 Dầu trái đất và toàn thể cư dân run sợ, nhưng Ta khiến các trụ cột nó vững chắc. Sê-la
\s5
\v 4 Ta bảo kẻ kiêu ngạo: “Chớ ngạo mạn,” và bảo kẻ ác: “Đừng tưởng mình sẽ thắng.
\s5
\v 5 Đừng giương sừng lên cao; chớ ngẩng cao đầu mà nói năng như vậy.”
\s5
\v 6 Chiến thắng không đến từ phương đông, phương tây, cũng không đến từ hoang mạc.
\s5
\v 7 Nhưng Thiên Chúa là thẩm phán; Ngài hạ kẻ này xuống, nhắc người kia lên.
\s5
\v 8 Vì Chúa Hằng Hữu cầm trên tay chén rượu pha sủi bọt, rồi rót nó ra. Mọi kẻ ác trên đất sẽ phải uống cạn nó.
\s5
\v 9 Nhưng con sẽ không ngừng thuật lại những việc Chúa đã làm; con sẽ hát ca ngợi Thiên Chúa của Gia-cốp.
\s5
\v 10 Chúa có phán: “Ta sẽ chặt đứt hết sừng của kẻ ác, còn sừng của người công chính sẽ được ngước lên.”
\s5
\c 76
\p
\v 1 Thiên Chúa tự tỏ mình ra trong Giu-đa; danh Ngài thật vĩ đại trong Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 2 Lều của Ngài ở tại Sa-lem; nơi ngự Ngài ở tại Si-ôn.
\s5
\v 3 Tại đó Ngài bẻ gãy tên cung, khiên mộc, gươm đao, cùng các thứ vũ khí khác. Sê-la
\s5
\v 4 Chúa tỏa rạng vinh quang Ngài, khi Chúa từ trên núi xuống, là nơi Chúa đánh giết các kẻ thù Ngài.
\s5
\v 5 Kẻ can trường bị cướp bóc; họ chìm vào giấc ngủ. Toàn thể chiến binh đều bất lực.
\s5
\v 6 Lạy Thiên Chúa của Gia-cốp, nghe Chúa quở trách, cả ngựa và người cưỡi đều thiếp đi.
\s5
\v 7 Chúa, phải, chính Chúa, mới đáng sợ; khi Chúa nổi giận, ai đứng nổi trước mặt Ngài?
\s5
\v 8 Từ trên trời Chúa xét xử; đất sợ hãi và im tiếng
\s5
\v 9 khi Ngài, là Thiên Chúa, trỗi dậy tiến hành xét xử và giải cứu mọi kẻ chịu áp bức trên đất. Sê-la
\s5
\v 10 Sự phán xét giận dữ của Chúa dành cho loài người chắc chắn sẽ đem lại cho Ngài sự ngợi khen. Chúa trút đổ cơn thạnh nộ Ngài.
\s5
\v 11 Hãy hứa nguyện với Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa của anh em, rồi thực hiện. Nguyện mọi kẻ chung quanh Chúa đều đem lễ vật đến cho Đấng đáng phải kính sợ.
\s5
\v 12 Chúa đánh hạ ngạo khí của những người quyền thế; các vua trên đất đều khiếp hãi Ngài.
\s5
\c 77
\p
\v 1 Con sẽ dùng tiếng mình kêu cầu cùng Thiên Chúa; con sẽ lên tiếng cầu khẩn Ngài, và Thiên Chúa của con sẽ nghe con.
\s5
\v 2 Trong ngày hoạn nạn con tìm kiếm Chúa; vào ban đêm, con đã giơ tay mình ra không mỏi mệt. Linh hồn con không chịu yên ủi.
\s5
\v 3 Tôi nghĩ đến Thiên Chúa khi than thở; tôi nhớ đến Ngài khi yếu sức. Sê-la
\s5
\v 4 Chúa giữ cho mắt con luôn mở; con bối rối quá không nói được.
\s5
\v 5 Con nghĩ về những ngày xưa cũ, về thuở xa xưa.
\s5
\v 6 Suốt đêm con nhớ lại bài ca mà mình từng hát. Con cẩn thận suy xét và cố gắng hiểu việc đã xảy ra.
\s5
\v 7 Phải chăng Chúa sẽ khước từ tôi mãi mãi? Phải chăng Ngài sẽ chẳng bao giờ ban ơn lại cho tôi?
\s5
\v 8 Phải chăng lòng thành tín về giao ước về giao ước Chúa đã mãi mãi không còn? Phải chăng lời hứa của Ngài sẽ mãi mãi không được thực hiện?
\s5
\v 9 Phải chăng Thiên Chúa đã quên tỏ ra độ lượng? Phải chăng cơn giận đã đóng chặt lòng thương xót Ngài? Sê-la
\s5
\v 10 Con nói rằng: “Nỗi bất hạnh của mình là đây: Tay phải của Đấng Chí Cao đối với chúng ta không còn như trước.”
\s5
\v 11 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, con sẽ nhớ lại các công việc của Ngài; con sẽ nghĩ về các việc kỳ diệu Chúa đã thực hiện ngày xưa.
\s5
\v 12 Con sẽ ngẫm nghĩ về mọi công việc của Chúa và suy ngẫm về chúng.
\s5
\v 13 Lạy Thiên Chúa, đường lối Ngài là thánh; có thần nào sánh được với Thiên Chúa vĩ đại của chúng con?
\s5
\v 14 Chúa là Thiên Chúa thực hiện các phép lạ; Chúa đã tỏ sức mạnh Ngài ra giữa vòng các dân.
\s5
\v 15 Bởi năng quyền lớn lao mình, Chúa đã cho dân Ngài được thắng tức là con cháu của Gia-cốp và Giô-sép. Sê-la
\s5
\v 16 Thiên Chúa ôi, các dòng nước trông thấy Ngài; các dòng nước thấy Ngài, thì sợ hãi; các vực sâu run rẩy.
\s5
\v 17 Các đám mây trút nước xuống; bầu trời rền tiếng sấm; các mũi tên Ngài vụt bay khắp nơi.
\s5
\v 18 Tiếng Chúa vang rền nghe được trong gió; chớp nhoáng thắp sáng thế gian; trái đất rung chuyển.
\s5
\v 19 Đường của Chúa đi xuyên qua biển cả, lối của Ngài đi qua vùng nước dâng tràn, nhưng vết chân Chúa chẳng ai nhìn thấy.
\s5
\v 20 Chúa dùng tay Môi-se và A-rôn dẫn dắt dân Ngài như đàn chiên.
\s5
\c 78
\p
\v 1 Hỡi dân tôi, hãy nghe giáo huấn của tôi đây, hãy lắng nghe các lời của miệng tôi.
\s5
\v 2 Tôi sẽ mở miệng nói bằng ẩn dụ; tôi sẽ hát về những việc giấu kín liên quan đến quá khứ.
\s5
\v 3 Đó là những việc chúng tôi đã nghe và học biết, những chuyện mà tổ tiên chúng ta đã thuật lại.
\s5
\v 4 Chúng tôi sẽ không giữ kín những việc ấy đối với con cháu họ. Chúng tôi sẽ kể cho đời sau về những công việc đáng ca ngợi của Chúa Hằng Hữu, cùng sức mạnh và các phép lạ mà Ngài đã làm.
\s5
\v 5 Vì Ngài đã thiết đặt các sắc lệnh về giao ước trong Gia-cốp, định ra luật pháp trong Y-sơ-ra-ên. Ngài truyền cho cha ông chúng ta phải dạy những điều đó cho con cái mình.
\s5
\v 6 Ngài truyền bảo như vậy để thế hệ sẽ đến, tức các cháu bé chưa sinh ra, biết được các sắc lệnh của Ngài, rồi đến lượt chúng sẽ kể lại cho con cái mình.
\s5
\v 7 Nhờ đó chúng nó sẽ đặt hy vọng nơi Thiên Chúa, không quên các công việc Ngài, mà tuân giữ các điều răn Ngài.
\s5
\v 8 Để chúng nó sẽ không giống như cha ông mình, là thế hệ ương ngạnh, phản loạn, thế hệ có tấm lòng không ngay thật, có tâm thần chẳng tận trung với Thiên Chúa.
\s5
\v 9 Con cháu Ép-ra-im trang bị cung tên, nhưng họ đã phải thối lui trong ngày chiến trận.
\s5
\v 10 Họ đã không giữ giao ước với Thiên Chúa, không chịu vâng theo luật pháp Ngài.
\s5
\v 11 Họ quên các công việc Ngài, tức các các việc kỳ diệu mà Ngài đã tỏ cho họ.
\s5
\v 12 Những việc phi thường mà Ngài làm trước mắt cha ông họ tại đất Ai Cập, trong vùng Xô-an.
\s5
\v 13 Ngài rẽ biển và dẫn họ đi qua; Ngài khiến nước dựng lên như những vách tường thành.
\s5
\v 14 Ban ngày, Ngài dẫn họ bằng áng mây, trọn ban đêm thì bằng ánh lửa.
\s5
\v 15 Ngài bửa các tảng đá trong hoang mạc ra và ban cho họ nước dư dật, đủ để lấp đầy các vực sâu của biển.
\s5
\v 16 Ngài khiến các dòng suối từ đá tuôn ra và làm cho nước chảy như sông.
\s5
\v 17 Vậy mà họ cứ tiếp tục phạm tội với Chúa, trong hoang mạc nổi loạn chống lại Đấng Chí Cao.
\s5
\v 18 Trong lòng họ thách thức Thiên Chúa, đòi thức ăn theo sự thèm khát của mình.
\s5
\v 19 Họ nói phạm đến Chúa; rằng: “Thiên Chúa thật có thể dọn ăn cho chúng ta trong hoang mạc sao?
\s5
\v 20 Đúng, khi Ngài đập hòn đá thì nước phun ra, dòng suối chảy tràn. Nhưng Ngài cũng ban bánh được ư? Ngài sẽ cấp thịt cho dân mình sao?”
\s5
\v 21 Khi Chúa Hằng Hữu nghe lời đó, Ngài nổi giận; lửa Ngài bùng lên nghịch cùng Gia-cốp, cơn giận Ngài đổ dồn vào Y-sơ-ra-ên,
\s5
\v 22 vì họ không tin Thiên Chúa và không cậy sự cứu rỗi của Ngài.
\s5
\v 23 Nhưng Ngài cũng ban lệnh cho bầu trời và mở các cửa nó.
\s5
\v 24 Ngài ban ma-na xuống như mưa cho họ ăn, ban cho họ ngũ cốc từ trời.
\s5
\v 25 Dân chúng đã ăn bánh của các thiên sứ. Ngài ban cho họ thức ăn dồi dào.
\s5
\v 26 Ngài khiến gió đông thổi trên trời, và bởi quyền năng, Ngài dẫn dắt gió nam.
\s5
\v 27 Ngài ban thịt xuống trên họ như tro bụi, chim nhung nhúc khác nào cát biển.
\s5
\v 28 Chúng sa xuống giữa trại họ, quanh khắp các lều họ.
\s5
\v 29 Vậy là họ ăn và no nê. Ngài đã cho họ điều họ thèm muốn.
\s5
\v 30 Nhưng họ chưa đã cơn thèm khát; thức ăn vẫn con trong miệng họ.
\s5
\v 31 Lúc đó cơn giận của Thiên Chúa trút xuống trên họ, giết chết những kẻ mạnh sức nhất. Ngài đánh hạ những thanh niên của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 32 Dầu vậy, họ vẫn cứ phạm tội và chẳng chịu tin các việc kỳ diệu của Ngài.
\s5
\v 33 Thế là Thiên Chúa rút ngắn số ngày của họ; các năm tháng họ đầy nỗi kinh hoàng.
\s5
\v 34 Mỗi khi Chúa hành hại họ thì họ lại tìm cầu Chúa, họ quay trở lại và dốc lòng tìm kiếm Ngài.
\s5
\v 35 Họ nhớ lại rằng Thiên Chúa chính là vầng đá của họ, rằng Thiên Chúa Chí Cao là Đấng giải cứu họ.
\s5
\v 36 Nhưng họ chỉ dùng môi miệng xu nịnh Ngài, dùng lời lẽ mà dối gạt Ngài.
\s5
\v 37 Vì lòng họ không chăm vào Ngài, và họ chẳng trung tín với giao ước Chúa.
\s5
\v 38 Nhưng, vì thương xót họ, Ngài đã thứ tha tội cho họ và không hủy diệt họ. Thật vậy, Chúa đã nhiều lần nén giận và không khơi bùng cơn thạnh nộ Ngài.
\s5
\v 39 Chúa nhớ lại rằng họ chỉ là loài xác thịt, như làn gió thổi qua không trở lại.
\s5
\v 40 Biết bao lần họ đã nổi loạn chống nghịch Chúa trong sa mạc và khiến Ngài buồn lòng nơi hoang địa.
\s5
\v 41 Họ cứ liên tục thách thức Thiên Chúa và xúc phạm Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 42 Họ không nhớ đến quyền năng Chúa, thể nào Chúa đã giải cứu họ khỏi quân thù
\s5
\v 43 khi Ngài thực hiện các dấu hiệu đáng kinh sợ tại Ai Cập và các phép lạ trong vùng Xô-an.
\s5
\v 44 Chúa khiến các sông Ai Cập thành ra máu, khiến sông suối họ không uống được.
\s5
\v 45 Chúa sai những đàn ruồi ăn nuốt họ, còn ếch nhái thì tràn qua khắp xứ.
\s5
\v 46 Ngài phó mùa màng họ cho châu chấu, và công lao họ cho cào cào.
\s5
\v 47 Ngài hủy vườn nho họ bằng mưa đá, rồi lại dùng mưa đá diệt các cây sung của họ.
\s5
\v 48 Ngài giáng mưa đá trên trâu bò họ, giáng sấm sét xuống gia súc họ.
\s5
\v 49 Sự thạnh nộ kinh khiếp Ngài quất vào họ. Ngài sai phái cơn giận, sự cuồng nộ, và gian truân như các sứ giả mang họa đến.
\s5
\v 50 Ngài mở lối cho cơn thạnh nộ Ngài; Ngài không tha chết cho họ, mà phó họ cho tai vạ.
\s5
\v 51 Chúa giết hết các con trưởng tại Ai Cập, tức con trưởng của sức mạnh họ trong các lều trại của Cham.
\s5
\v 52 Chúa dắt dân Ngài ra như chiên và dẫn lối họ qua hoang mạc như bầy chiên.
\s5
\v 53 Ngài dẫn dắt họ thật an toàn, không chút sợ hãi, nhưng quân thù thì bị biển vùi lấp.
\s5
\v 54 Rồi Chúa đem họ đến ranh giới thánh địa Ngài, tới ngọn núi mà tay phải Ngài đã chiếm được.
\s5
\v 55 Chúa đuổi các dân khỏi trước mặt họ và giao xứ cho họ làm sản nghiệp; Ngài cho các bộ tộc Y-sơ-ra-ên định cư trong lều mình.
\s5
\v 56 Nhưng họ thách thức và xem thường Thiên Chúa Chí Cao, không vâng giữ các mạng lệnh hệ trọng của Chúa.
\s5
\v 57 Họ bất trung và hành xử cách phản trắc giống cha ông mình; họ chẳng đáng tin cậy, như cây cung sai lệch.
\s5
\v 58 Vì họ lập bàn thờ ngoại giáo mà chọc giận Chúa, và trêu Ngài ghen tức bằng các tượng thần mình.
\s5
\v 59 Khi Thiên Chúa nghe điều này thì Ngài nổi giận và hoàn toàn khước từ Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 60 Ngài từ bỏ nơi thánh tại Si-lô, tức lều tạm Ngài ngự giữa vòng dân chúng.
\s5
\v 61 Ngài để cho sức mạnh Ngài bị đoạt lấy và phó vinh quang Ngài vào tay quân thù.
\s5
\v 62 Chúa phó dân Ngài cho lưỡi gươm, Ngài nổi giận với sản nghiệp mình.
\s5
\v 63 Lửa thiêu nuốt các trai tráng của họ, nên thiếu nữ chẳng được hát điệu vu quy.
\s5
\v 64 Các thầy tế lễ ngã chết dưới lưỡi gươm, còn các góa phụ chẳng thể than khóc.
\s5
\v 65 Rồi Chúa thức giấc như một người ngủ dậy, như người chiến binh reo vui vì rượu.
\s5
\v 66 Chúa đẩy lui các kẻ thù Ngài; Chúa khiến họ mãi mãi bị xấu hổ.
\s5
\v 67 Chúa khước từ lều trại Giô-sép, Ngài không chọn chi tộc Ép-ra-im.
\s5
\v 68 Ngài chọn chi tộc Giu-đa và núi Si-ôn mà Ngài yêu mến.
\s5
\v 69 Chúa xây nơi thánh Ngài giống các tầng trời, giống trái đất mà Ngài đã thiết lập đời đời.
\s5
\v 70 Chúa chọn Đa-vít, tôi tớ Ngài, và đem người ra từ các chuồng chiên.
\s5
\v 71 Chúa khiến người thôi chăn dắt bầy chiên cái đang nuôi con, lập người lên làm người chăn dắt Gia-cốp, là dân Ngài, và Y-sơ-ra-ên, là cơ nghiệp Ngài.
\s5
\v 72 Đa-vít chăn dắt họ bằng sự chính trực của lòng mình, người dẫn dắt họ bằng tài khéo của đôi tay.
\s5
\c 79
\p
\v 1 Thiên Chúa ôi, các dân ngoại quốc đã xâm phạm cơ nghiệp Chúa; chúng đã làm ô uế đền thánh Ngài; chúng đã biến Giê-ru-sa-lem thành đống đổ nát.
\s5
\v 2 Chúng phó thây của các tôi tớ Chúa làm thức ăn cho chim trời, phó xác của những kẻ trung tín với Chúa cho thú dữ trên đất.
\s5
\v 3 Họ đã đổ máu ra như nước chung quanh Giê-ru-sa-lem, chẳng được ai chôn cất.
\s5
\v 4 Chúng con đã trở nên cớ cho người lân cận sỉ nhục, là đối tượng chế nhạo, làm trò cười cho mọi người chung quanh mình.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu ôi, còn bao lâu nữa? Chúa cứ giận đến mãi mãi sao? Cơn thạnh nộ ghen tức của Chúa sẽ phừng phừng như lửa cho đến bao giờ?
\s5
\v 6 Xin trút đổ cơn giận Chúa trên các dân chẳng nhìn biết Ngài, trên các nước không kêu cầu danh Ngài.
\s5
\v 7 Vì chúng đã ăn nuốt Gia-cốp và hủy diệt các làng mạc nó.
\s5
\v 8 Xin đừng đổ tội của cha ông chúng con lại trên chúng con; nguyện các việc làm nhân từ của Chúa giáng trên chúng con, vì chúng con thật hèn mọn.
\s5
\v 9 Lạy Thiên Chúa của sự cứu rỗi chúng con, xin cứu giúp chúng con, vì vinh quang danh Ngài; vì danh Chúa, xin cứu chúng con và tha tội chúng con.
\s5
\v 10 Vì sao các dân hỏi: “Thiên Chúa chúng nó đâu rồi?” Nguyện Chúa báo thù các dân về máu đã đổ ra của đầy tớ Ngài trước mặt chúng con.
\s5
\v 11 Nguyện tiếng rên siết của các tù nhân thấu đến trước Chúa; xin Chúa bởi quyền năng Ngài giữ cho những kẻ phải mang án tử được sống.
\s5
\v 12 Lạy Chúa, xin hãy báo trả gấp bảy lần vào lòng của các nước lân bang chúng con số những lời mà họ đã nhục mạ Chúa.
\s5
\v 13 Như vậy chúng con đây, vốn là dân Ngài và chiên của đồng cỏ Ngài, sẽ cảm tạ Chúa mãi mãi. Chúng con sẽ truyền tụng các lời ca ngợi Chúa cho mọi thế hệ.
\s5
\c 8
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa của chúng con, danh Ngài thật cao quý khắp cõi đất, ôi Chúa là Đấng bày tỏ vinh quang Ngài trên các từng trời.
\s5
\v 2 Vì các kẻ thù mình, Chúa khiến lời ca ngợi phát ra từ miệng của các em bé và trẻ sơ sinh, để làm im tiếng cả quân địch lẫn kẻ báo thù.
\s5
\v 3 Khi con nhìn lên các tầng trời của Chúa, vốn do ngón tay Ngài tạo ra, cùng mặt trăng và các vì sao mà Chúa đã đặt để,
\s5
\v 4 thì dòng giống loài người có quan trọng gì mà Chúa để ý đến, nhân loại là gì mà Ngài phải lưu tâm?
\s5
\v 5 Ấy thế mà Ngài đã tạo ra họ chỉ thấp hơn các hữu thể trên trời chút ít và đội cho họ vinh quang cùng sự tôn trọng.
\s5
\v 6 Ngài khiến họ cai quản các công trình của tay Ngài, đặt mọi vật dưới chân họ:
\s5
\v 7 nào chiên, bò đủ loại, thậm chí các loài thú đồng,
\s5
\v 8 các loài chim trên trời, và cá dưới biển, mọi vật đi qua các dòng hải lưu.
\s5
\v 9 Lạy Chúa Hằng Hữu, Chúa chúng con, danh Ngài thật cao quý trên khắp cõi đất!
\s5
\c 80
\p
\v 1 Lạy Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, Đấng dẫn dắt Giô-sép như đàn chiên; lạy Đấng ngự trên chê-ru-bin, xin hãy chiếu sáng trên chúng con!
\s5
\v 2 Trước mặt Ép-ra-im, Bên-gia-min và Ma-na-se, xin khuấy động quyền năng Ngài; xin đến cứu chúng con.
\s5
\v 3 Thiên Chúa ôi, xin phục hồi chúng con; xin Chúa chiếu sáng mặt Ngài trên chúng con, thì chúng con sẽ được cứu.
\s5
\v 4 Lạy Thiên Chúa các đạo binh, Chúa sẽ giận dân Ngài khi họ cầu nguyện cho đến bao giờ?
\s5
\v 5 Chúa đã nuôi họ bằng bánh giọt lệ và ban thật nhiều nước mắt cho họ làm thức uống.
\s5
\v 6 Chúa khiến chúng con trở thành đối tượng cho người ta bàn tán, và các kẻ thù chúng con cười nhạo chúng con giữa vòng chúng nó.
\s5
\v 7 Lạy Thiên Chúa các đạo binh, xin phục hồi chúng con; xin chiếu sáng mặt Chúa trên chúng con, thì chúng con sẽ được cứu.
\s5
\v 8 Chúa đem một cây nho ra khỏi Ai Cập; Chúa đuổi các dân đi rồi trồng nó xuống.
\s5
\v 9 Chúa phát quang đất cho nó; nó đâm rễ và mọc ra khắp cả xứ.
\s5
\v 10 Các núi được bóng nó che kín; các cây hương nam cao nhất của Thiên Chúa được nhánh nó phủ bao.
\s5
\v 11 Cành nhánh nó vươn ra tận biển, các chồi nó đến tận sông Ơ-phơ-rát.
\s5
\v 12 Sao Chúa lại phá đổ các vách thành nó để mọi kẻ đi qua bẻ trái nó?
\s5
\v 13 Lũ lợn lòi từ trong rừng ra phá nát nó, và thú dữ ngoài đồng đến ăn nó.
\s5
\v 14 Lạy Thiên Chúa các đạo binh, xin quay lại; từ trên trời, xin Chúa nhìn xuống, để ý và chăm sóc cây nho này.
\s5
\v 15 Đây là gốc mà tay phải Chúa đã trồng, là chồi mà Chúa đã làm cho lớn lên.
\s5
\v 16 Nó bị đốt cháy và đốn hạ; nguyện các kẻ thù nghịch Chúa tiêu vong vì bị Ngài quở phạt.
\s5
\v 17 Nguyện tay Chúa cứ ở trên kẻ vốn là tay phải của Ngài; trên con người mà Ngài đã khiến mạnh mẽ cho Ngài.
\s5
\v 18 Rồi chúng con sẽ không lìa bỏ Chúa; xin khiến chúng con hồi sinh, rồi chúng con sẽ cầu khẩn danh Ngài.
\s5
\v 19 Lạy Chúa Hằng Hữu, là Thiên Chúa các đạo binh, xin phục hồi chúng con, xin chiếu sáng mặt Ngài trên chúng con thì chúng con sẽ được cứu.
\s5
\c 81
\p
\v 1 Hãy lớn tiếng chúc tụng Thiên Chúa là sức lực của chúng ta; hãy lớn tiếng reo vui cho Thiên Chúa của Gia-cốp.
\s5
\v 2 Hãy hát một bài ca và vỗ trống lắc, khảy đàn lia du dương cùng đàn hạc.
\s5
\v 3 Hãy thổi kèn vào ngày trăng mới, vào ngày trăng tròn, khi kỳ lễ lạc khởi đầu.
\s5
\v 4 Vì đây là luật dành cho Y-sơ-ra-ên, là sắc lệnh do Thiên Chúa của Gia-cốp ban ra.
\s5
\v 5 Chúa ban hành luật ấy như một quy định trong Giô-sép khi Ngài đối địch với xứ Ai Cập, nơi tôi có nghe một giọng nói mà tôi không hiểu, bảo rằng:
\s5
\v 6 “Ta đã lấy đi gánh nặng khỏi vai nó; tay nó không còn phải khiêng thúng.
\s5
\v 7 Trong cơn gian truân, con kêu cứu, và Ta đã giúp đỡ con; từ đám mây giông đen kịt, Ta đã đáp lời con; tại vùng nước Mê-ri-ba, Ta đã thử con. Sê-la
\s5
\v 8 Hỡi dân Ta, hãy nghe, vì Ta sẽ cảnh báo các con; hỡi Y-sơ-ra-ên, ước gì con chịu nghe Ta!
\s5
\v 9 Chớ có thần lạ giữa vòng các con; các con không được thờ phụng bất kỳ thần ngoại quốc nào.
\s5
\v 10 Ta là Thiên Chúa Hằng Hữu các con, Đấng đem các con ra khỏi xứ Ai Cập. Hãy há hoác miệng ra, thì Ta sẽ làm cho đầy.
\s5
\v 11 Nhưng dân Ta chẳng chịu nghe lời Ta; Y-sơ-ra-ên chẳng vâng lời Ta.
\s5
\v 12 Vậy nên Ta đã bỏ mặc chúng đi theo đường lối ương ngạnh mình để chúng có thể làm điều mình tưởng là phải.
\s5
\v 13 Ôi, ước gì dân Ta chịu nghe Ta; ôi, ước gì dân Ta bước đi trong các đường lối Ta.
\s5
\v 14 Khi đó Ta sẽ nhanh chóng buộc kẻ thù của chúng phải khuất phục và trở tay Ta nghịch cùng những kẻ áp bức chúng.
\s5
\v 15 Nguyện kẻ nào ghét Chúa Hằng Hữu phải sợ khúm núm trước mặt Ngài! Nguyện chúng bị sỉ nhục mãi mãi!
\s5
\v 16 Ta sẽ lấy lúa mì tốt nhất mà nuôi Y-sơ-ra-ên; Ta lấy mật ong từ vầng đá khiến chúng thỏa nguyện.”
\s5
\c 82
\p
\v 1 Thiên Chúa đứng trong hội đồng thiên thượng; Ngài thi hành sự phán xét giữa các thần.
\s5
\v 2 Các người sẽ còn xét xử bất công và thiên vị kẻ ác bao lâu nữa? Sê-la
\s5
\v 3 Hãy bênh vực người nghèo và kẻ mồ côi, hãy bảo vệ quyền lợi của người khổ sở, túng ngặt.
\s5
\v 4 Phải giải thoát kẻ nghèo thiếu, cứu họ ra khỏi tay bọn ác nhân.
\s5
\v 5 Chúng chẳng biết, cũng chẳng hiểu gì; chúng rảo quanh trong bóng tối; mọi nền móng trái đất đều đổ sập.
\s5
\v 6 Tôi nói: “Các người là thần, các người đều là con trai của Đấng Chí Cao.
\s5
\v 7 Dầu vậy, các người sẽ chết như phàm nhân, và sa ngã như một trong các vua chúa.”
\s5
\v 8 Thiên Chúa ôi, xin trỗi dậy phán xét trái đất, vì Chúa sẽ thừa hưởng muôn dân làm cơ nghiệp.
\s5
\c 83
\p
\v 1 Lạy Thiên Chúa, xin đừng im lặng! Thiên Chúa ôi, xin Chúa đừng làm ngơ chúng con và cứ mãi bất động.
\s5
\v 2 Kìa, các kẻ thù của Chúa đang náo động, những kẻ ghét Chúa đã ngóc đầu lên.
\s5
\v 3 Chúng nó bàn mưu chống lại dân Chúa và cùng toan tính chống nghịch những kẻ được Ngài chở che.
\s5
\v 4 Chúng bảo nhau: “Chúng ta hãy đến hủy diệt cả dân tộc chúng nó. Rồi danh Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng được ai nhớ đến nữa.”
\s5
\v 5 Chúng đã cùng nhau mưu tính với một chiến lược; ấy là để chống lại Chúa mà chúng thành lập liên minh.
\s5
\v 6 Nào là dân Ê-đôm cùng người Ích-ma-ên, người Mô-áp với dân Ha-ga-rít, cùng mưu tính với
\s5
\v 7 Ghê-banh, Am-môn, A-ma-léc; cũng có cả Phi-li-tin và dân cư Ty-rơ.
\s5
\v 8 A-si-ri cũng liên kết với chúng nó; chúng hỗ trợ con cháu Lót. Sê-la
\s5
\v 9 Xin Chúa xử chúng như Chúa đã làm với Ma-đi-an, như Ngài đã xử Si-sê-ra, và Gia-bin tại sông Ki-sôn.
\s5
\v 10 Chúng nó bị tiêu vong tại Ên-đô-rơ và ra như phân trên đất.
\s5
\v 11 Xin Chúa khiến giới quyền quý của chúng ra giống như Ô-rếp và Xê-ép, và hết thảy các quan tướng chúng ra giống như Xê-bách và Xanh-mu-na.
\s5
\v 12 Chúng bảo: “Chúng ta hãy đoạt lấy cho mình các đồng cỏ của Thiên Chúa.”
\s5
\v 13 Thiên Chúa của con ôi, xin khiến chúng thành ra như đám bụi xoáy, như trấu trước cơn gió,
\s5
\v 14 như lửa thiêu hủy rừng, như ngọn lửa đốt cháy các núi.
\s5
\v 15 Xin dùng cơn gió mạnh của Chúa đuổi theo chúng nó, và khiến chúng kinh sợ bằng bão tố của Ngài.
\s5
\v 16 Xin khiến chúng phải hổ mặt để chúng biết tìm kiếm danh Ngài, lạy Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 17 Nguyện chúng bị mắc cỡ và kinh hoảng đời đời; nguyện chúng bị diệt vong một cách đáng xấu hổ.
\s5
\v 18 Khi ấy, lạy Chúa Hằng Hữu, chúng sẽ biết rằng chỉ có Chúa là Đấng Chí Cao trên khắp cả đất.
\s5
\c 84
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, nơi Chúa ngự thật đáng yêu!
\s5
\v 2 Con khao khát được ở trong sân đền của Chúa Hằng Hữu, nỗi khát khao ấy của con khiến con kiệt sức. Lòng con và cả con người con kêu xin Thiên Chúa hằng sống.
\s5
\v 3 Lạy Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, là Vua, cũng là Thiên Chúa của con, ngay như chim sẻ cũng kiếm được chỗ ở, và chim nhạn cũng tìm được tổ để sinh con gần các bàn thờ của Chúa.
\s5
\v 4 Phước thay cho kẻ được ở trong nhà Chúa; họ ca ngợi Chúa không ngừng. Sê-la
\s5
\v 5 Phước cho người có được sức lực trong Chúa, người có lòng hướng về đường dẫn đến Si-ôn.
\s5
\v 6 Khi đi qua thung lũng khóc lóc, họ kiếm được các suối nước uống. Mưa sớm bao phủ nó bằng các phước lành.
\s5
\v 7 Họ đi sức lực càng thêm lên; mỗi người trong số họ đều ra mắt Thiên Chúa tại Si-ôn.
\s5
\v 8 Lạy Thiên Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, xin nghe lời con cầu nguyện; lạy Thiên Chúa của Gia-cốp, xin Chúa lắng nghe lời con nói đây! Sê-la
\s5
\v 9 Thiên Chúa ôi, xin canh giữ khiên của chúng con; xin Chúa quan tâm đến kẻ chịu xức dầu của Ngài.
\s5
\v 10 Vì một ngày trong sân đền Chúa quý hơn cả ngàn ngày ở nơi khác. Con thà làm kẻ giữ cửa trong nhà Thiên Chúa mình hơn là sống trong lều trại kẻ ác.
\s5
\v 11 Vì Thiên Chúa Hằng Hữu là mặt trời và thuẫn che chúng con; Chúa Hằng Hữu sẽ ban ân sủng và vinh quang; Ngài chẳng từ chối điều tốt lành nào đối với kẻ bước đi cách chính trực.
\s5
\v 12 Lạy Chúa Hằng Hữu của các đạo binh, phước cho người tin cậy Chúa.
\s5
\c 85
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, Chúa đã ưu ái xứ Ngài; Chúa đã phục hồi sự hưng vượng của Gia-cốp.
\s5
\v 2 Chúa đã tha tội cho dân Ngài; Chúa đã phủ lấp mọi tội lỗi họ. Sê-la
\s5
\v 3 Chúa đã rút lại hết cơn thạnh nộ Chúa; Chúa đã nguôi cơn nóng giận của Ngài.
\s5
\v 4 Lạy Thiên Chúa của sự cứu rỗi chúng con, xin hãy phục hồi chúng con, và bỏ qua nỗi bực dọc của Chúa đối với chúng con.
\s5
\v 5 Chúa sẽ giận chúng con mãi mãi sao? Phải chăng Chúa sẽ cứ giận như vậy suốt các thế hệ tương lai?
\s5
\v 6 Chúa không khiến chúng con được hồi sinh, để rồi dân Chúa sẽ vui mừng về Ngài hay sao?
\s5
\v 7 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy tỏ cho chúng con lòng thành tín về giao ước về giao ước Ngài; xin ban cho chúng con sự cứu rỗi của Ngài.
\s5
\v 8 Tôi sẽ lắng nghe điều Chúa Hằng Hữu phán bảo, vì Ngài sẽ làm hòa với dân Ngài, tức những kẻ trung tín theo Ngài. Nhưng họ không được quay trở lại các đường lối ngu dại.
\s5
\v 9 Sự cứu rỗi của Chúa chắc chắn gần với kẻ kính sợ Ngài; rồi vinh quang sẽ tiếp tục ở trong xứ chúng ta.
\s5
\v 10 Sự thành tín về giao ước và sự đáng tin cậy đã gặp nhau; sự công chính và bình an đã hôn nhau.
\s5
\v 11 Sự chân thật sẽ từ đất mọc lên, và sự công bình sẽ từ trên trời nhìn xuống.
\s5
\v 12 Thật, Chúa Hằng Hữu sẽ ban phước lành và xứ chúng ta sẽ sinh hoa lợi.
\s5
\v 13 Sự công chính sẽ đi trước mặt Chúa và mở đường cho các bước Ngài.
\s5
\c 86
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu ôi, xin lắng nghe và đáp lời con, vì con nghèo nàn và bị áp chế.
\s5
\v 2 Xin Chúa bảo vệ con vì con trung tín; Thiên Chúa của con ôi, xin cứu tôi tớ Chúa, là kẻ biết tin cậy Ngài.
\s5
\v 3 Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con kêu cầu Chúa trọn cả ngày.
\s5
\v 4 Xin khiến tôi tớ Chúa vui sướng vì, lạy Chúa, Ngài là Đấng con dâng trọn linh hồn.
\s5
\v 5 Chúa ôi, Ngài nhân từ và sẵn sàng tha thứ, Ngài tỏ lòng khoan dung lớn cho mọi kẻ kêu cầu Ngài.
\s5
\v 6 Chúa Hằng Hữu ôi, xin lắng nghe lời cầu nguyện của con; xin Chúa nghe các lời con cầu xin.
\s5
\v 7 Trong ngày gian truân con kêu cầu Chúa, vì Ngài sẽ đáp lời con.
\s5
\v 8 Chúa ôi, giữa vòng các thần, chẳng có ai sánh được với Chúa. Chẳng có việc nào giống như các việc Chúa làm.
\s5
\v 9 Chúa ôi, tất cả các dân mà Chúa đã tạo ra sẽ đến cúi mình trước mặt Chúa. Họ sẽ tôn kính danh Chúa.
\s5
\v 10 Vì Chúa thật vĩ đại và làm những việc kỳ diệu; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu ôi, xin dạy con các đường lối Ngài. Rồi con sẽ bước đi trong chân lý Ngài. Xin cho con cứ mãi một lòng tôn kính Chúa.
\s5
\v 12 Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ ca ngợi Chúa bằng cả tấm lòng; con sẽ tôn vinh danh Ngài mãi mãi.
\s5
\v 13 Vì lòng thành tín về giao ước Chúa đối với con thật lớn; Chúa đã giải cứu mạng sống con khỏi các vực sâu âm phủ.
\s5
\v 14 Thiên Chúa ôi, kẻ kiêu ngạo đã nổi lên chống nghịch con. Một bọn người hung bạo tìm hại mạng sống con. Chúng chẳng biết tôn kính Chúa.
\s5
\v 15 Nhưng, Chúa ôi, Ngài là Thiên Chúa nhân từ, bao dung, chậm giận, giàu lòng thành tín về giao ước và chân thật.
\s5
\v 16 Xin đoái xem con và thương xót con; xin ban sức lực cho kẻ tôi tớ Chúa; xin cứu con trai của đầy tớ gái Ngài.
\s5
\v 17 Xin tỏ cho con dấu hiệu về ơn Chúa. Rồi những kẻ ghét con sẽ thấy và bị xấu hổ vì, lạy Chúa Hằng Hữu, Chúa đã cứu giúp con và yên ủi con.
\s5
\c 87
\p
\v 1 Thành của Chúa được lập vững trên núi thánh.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu yêu mến các cổng Si-ôn hơn mọi lều trại của Gia-cốp.
\s5
\v 3 Hỡi thành của Thiên Chúa, người ta nói những điều thật tuyệt vời về người.
\s5
\v 4 “Tôi nhắc đến Ra-háp và Ba-by-lôn cho những kẻ theo mình. Kìa, có Phi-li-tin và Ty-rơ, cùng với Ê-thi-ô-bi. Kẻ này sinh ra tại đó.’”
\s5
\v 5 Về Si-ôn, người ta sẽ nói: “Mỗi người trong số này được sinh ở đó, và chính Đấng Chí Cao sẽ vững lập nó.”
\s5
\v 6 Khi ghi các dân vào sổ bộ, Chúa Hằng Hữu lưu ý: “Kẻ này sinh ra tại đó.” Sê-la
\s5
\v 7 Cũng vậy, các ca sĩ và vũ công nói với nhau: “Mọi suối nước tôi đều ở trong người.”
\s5
\c 88
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của sự cứu rỗi con, ngày đêm con kêu cầu trước mặt Chúa.
\s5
\v 2 Xin Chúa nghe lời cầu nguyện con; xin để ý tiếng kêu khóc của con.
\s5
\v 3 Vì con đầy nỗi gian truân và mạng sống con đã xuống tận âm phủ.
\s5
\v 4 Người ta xử với con như với những kẻ đi xuống huyệt; con là người chẳng còn sức lực gì.
\s5
\v 5 Con bị bỏ giữa vòng kẻ chết; con chẳng khác chi người chết ở trong mồ mà Chúa chẳng còn quan tâm vì bị cắt đứt khỏi quyền năng Chúa.
\s5
\v 6 Chúa để con ở đáy vực, tại những chỗ tối tăm, sâu thẳm.
\s5
\v 7 Cơn giận Chúa đè nặng trên con, các cơn sóng của Chúa quét qua con. Sê-la
\s5
\v 8 Vì Cớ Chúa mà những người thân quen tránh né con. Chúa đã biến con thành cảnh tượng gây sửng sốt. Con bị vây hãm không thoát ra được.
\s5
\v 9 Mắt con yếu đi vì hoạn nạn; suốt ngày con kêu la cùng Chúa.
\s5
\v 10 Chúa sẽ vì kẻ chết mà làm phép lạ sao? Người đã chết có đứng lên ca ngợi Chúa không? Sê-la
\s5
\v 11 Sự thành tín Chúa có được công bố trong mồ mả, hoặc lòng trọn thành của Chúa có được rao ra trong cõi chết chăng?
\s5
\v 12 Phải chăng các việc kỳ diệu của Chúa sẽ được biết đến trong chốn tối tăm, sự công chính Chúa được nhận ra trong chỗ quên lãng?
\s5
\v 13 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, con kêu cầu Chúa; vào buổi sáng, lời cầu nguyện con đến trước mặt Ngài.
\s5
\v 14 Chúa Hằng Hữu ôi, sao Ngài khước từ con? Vì sao Chúa giấu mặt khỏi con?
\s5
\v 15 Từ thuở niên thiếu con luôn chịu hoạn nạn và đứng bên bờ sự chết. Con phải chịu những kinh hoàng từ nơi Chúa; con chẳng làm gì được.
\s5
\v 16 Các hành động nóng giận của Chúa đã tràn qua con, các việc làm kinh khiếp của Chúa hủy diệt con.
\s5
\v 17 Chúng như nước bao phủ con cả ngày; chúng vây kín lấy con.
\s5
\v 18 Chúa đã cất đi hết mọi bè bạn và người quen biết con. Con chỉ còn bóng tối là chỗ thân quen.
\s5
\c 89
\p
\v 1 Con sẽ mãi mãi hát xướng về các việc làm thành tín của Chúa Hằng Hữu. Con sẽ rao ra sự chân thật của Chúa cho các thế hệ tương lai.
\s5
\v 2 Vì con đã nói: “Sự thành tín về giao ước đã được thiết lập đời đời; lòng chân thật của Chúa đã vững lập trên các tầng trời.”
\s5
\v 3 “Ta đã lập giao ước với kẻ được chọn của Ta, Ta đã thề hứa với Đa-vít tôi tớ Ta.
\s5
\v 4 Ta sẽ lập dòng dõi con đến đời đời, và Ta sẽ vững lập ngai con trải mọi thế hệ.” Sê-la
\s5
\v 5 Lạy Chúa Hằng Hữu, các tầng trời ca ngợi những việc kỳ diệu của Ngài; sự chân thật của Ngài được ca tụng trong hội những người thánh.
\s5
\v 6 Vì trên trời có ai sánh được với Chúa Hằng Hữu? Giữa vòng con trai các thần, có ai giống như Ngài?
\s5
\v 7 Ngài là Thiên Chúa được hết mực tôn kính trong hội đồng những người thánh và là Đấng đáng kính sợ giữa vòng mọi người quanh Ngài.
\s5
\v 8 Lạy Chúa Hằng Hữu, Thiên Chúa của các đạo binh, có ai mạnh mẽ như Ngài? Sự chân thật bao quanh Ngài.
\s5
\v 9 Chúa chế ngự biển dữ; khi các lớp sóng dâng tràn, Ngài khiến chúng lặng yên.
\s5
\v 10 Chúa chà nát Ra-háp như xác chết. Chúa dùng cánh tay mạnh mẽ đánh tan tác kẻ thù Ngài.
\s5
\v 11 Các tầng trời thuộc về Chúa, và đất cũng vậy. Chúa tạo dựng thế giới cùng mọi vật trong đó.
\s5
\v 12 Chúa làm nên phương bắc cùng phương nam. Núi Tha-bô và Hẹt-môn vui mừng trong danh Ngài.
\s5
\v 13 Chúa có cánh tay quyền năng, bàn tay mạnh mẽ, và bàn tay phải Ngài đưa cao lên.
\s5
\v 14 Sự công chính và lẽ phải là nền tảng của ngai Chúa. Sự thành tín và chân thật đi trước mặt Chúa.
\s5
\v 15 Thật phước cho người phụng thờ Ngài! Lạy Chúa Hằng Hữu, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.
\s5
\v 16 Trọn ngày họ vui mừng trong danh Chúa, và bằng sự công chính của Chúa họ tôn cao Ngài.
\s5
\v 17 Chúa là sức lực oai phong của họ, và nhờ ơn Chúa chúng con đắc thắng.
\s5
\v 18 Vì thuẫn che chúng con thuộc về Chúa Hằng Hữu; vua chúng con là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
\s5
\v 19 Thuở xưa Chúa phán với những người trung tín của Ngài trong khải tượng; rằng: “Ta đã đội vương miện cho một người mạnh mẽ; Ta đã cất nhắc một kẻ được chọn giữa vòng dân chúng.
\s5
\v 20 Ta đã lựa chọn tôi tớ Ta là Đa-vít; Ta đã xức dầu thánh Ta cho người.
\s5
\v 21 Bàn tay ta sẽ nâng đỡ người; cánh tay ta sẽ khiến người mạnh mẽ.
\s5
\v 22 Sẽ chẳng có kẻ thù nào lừa dối người; sẽ chẳng có con trai gian ác nào áp chế người.
\s5
\v 23 Ta sẽ chà nát quân thù trước mặt người; Ta sẽ giết chết những kẻ oán ghét người.
\s5
\v 24 Sự chân thật và sự thành tín về giao ước Ta sẽ ở cùng người; bởi danh Ta người sẽ được thắng.
\s5
\v 25 Ta sẽ đặt tay người trên biển, và tay phải người trên các sông.
\s5
\v 26 Người sẽ kêu ta: Chúa là Cha của con, là Thiên Chúa con, và là vầng đá cứu rỗi con.
\s5
\v 27 Ta cũng sẽ đặt người làm trưởng nam Ta, làm vị vua được tôn cao nhất trong các vua trên đất.
\s5
\v 28 Ta sẽ đãi người bằng sự thành tín Ta cho đến đời đời; giao ước Ta với người sẽ được vững chắc
\s5
\v 29 Ta sẽ khiến dòng dõi người còn lại đời đời, và ngôi người sẽ trường tồn như bầu trời trên cao.
\s5
\v 30 Nếu con cháu người từ bỏ luật pháp Ta và bất tuân các sắc lệnh của Ta,
\s5
\v 31 nếu chúng vi phạm các luật lệ Ta và không giữ theo các mạng lệnh Ta,
\s5
\v 32 Ta sẽ dùng roi gậy phạt lòng bội nghịch chúng, dùng đòn vọt trừng trị tội lỗi chúng.
\s5
\v 33 Nhưng Ta sẽ không cất đi sự thành tín Ta đối với người, hoặc phản bội lời thề hứa của mình.
\s5
\v 34 Ta sẽ không vi phạm giao ước Ta, chẳng thay đổi lời môi miệng Ta đã phán.
\s5
\v 35 Bởi sự thánh khiết mình, Ta đã thề hứa một lần dứt khoát Ta sẽ không nói dối Đa-vít:
\s5
\v 36 dòng dõi người sẽ còn lại mãi mãi và ngôi người sẽ dài lâu như mặt trời trước mặt Ta.
\s5
\v 37 Nó sẽ được vững lập đời đời như mặt trăng, là nhân chứng trung tín trên bầu trời.” Sê-la
\s5
\v 38 Nhưng Chúa đã khước từ, loại bỏ; Chúa đã nổi giận với vua được Ngài xức dầu.
\s5
\v 39 Chúa đã từ bỏ giao ước của tôi tới Ngài. Chúa đã vứt bỏ mão miện người xuống đất.
\s5
\v 40 Chúa đã phá đổ hết tường thành của người. Các đồn lũy người Ngài khiến tan hoang.
\s5
\v 41 Mọi kẻ qua lại đều cướp bóc người. Người trở thành kẻ đáng tởm đối với các láng giềng.
\s5
\v 42 Chúa đã nâng tay phải của các kẻ thù người lên; Chúa đã khiến mọi kẻ thù người vui mừng.
\s5
\v 43 Chúa bẻ ngược lưỡi gươm người và chẳng giúp người trụ được khi lâm chiến.
\s5
\v 44 Chúa đã chấm dứt ve rực rỡ của người; Chúa hạ bệ ngôi người xuống đất.
\s5
\v 45 Chúa rút ngắn số ngày thanh xuân người. Chúa khiến người mang lấy xấu hổ. Sê-la
\s5
\v 46 Còn bao lâu nữa, lạy Chúa Hằng Hữu? Phải chăng Ngài sẽ ẩn mặt mãi mãi? Cơn giận của Chúa sẽ còn bùng cháy bao lâu nữa?
\s5
\v 47 Ôi, xin Chúa hãy nhớ thời gian của con ngắn ngủi biết bao, và Chúa đã dựng nên các con loài người hư ảo dường nào!
\s5
\v 48 Ai có thể sống mãi mà không chết, hoặc tự cứu mình khỏi quyền lực âm phủ? Sê-la
\s5
\v 49 Chúa ôi, các việc làm thành tín trước đây của Chúa mà Ngài đã lấy lòng chân thật thề hứa với Đa-vít đâu cả rồi?
\s5
\v 50 Lạy Chúa, xin hãy nhớ lại sự nhạo báng mà các tôi tớ Chúa phải chịu, cùng bao nhiêu lời nhục mạ của các dân mà con mang trong lòng?
\s5
\v 51 Chúa Hằng Hữu ôi, các kẻ thù Chúa nhục mạ; chúng nhạo cười các bước của kẻ chịu xức dầu của Chúa.
\s5
\v 52 Đáng ca ngợi Chúa Hằng Hữu đến đời đời. A-men. A-men.
\s5
\c 9
\p
\v 1 Con sẽ cảm tạ Chúa Hằng Hữu với cả lòng mình; con sẽ nói về mọi việc kỳ diệu của Ngài.
\s5
\v 2 Con sẽ sung sướng và vui mừng trong Ngài; lạy Đấng Chí Cao, con sẽ hát ca ngợi danh Ngài!
\s5
\v 3 Khi các kẻ thù con quay lại, thì chúng sẽ vấp ngã và bị diệt vong trước mặt Ngài.
\s5
\v 4 Vì Ngài đã bênh vực chính nghĩa của con; Chúa ngự trên ngai, là vị quan tòa công minh!
\s5
\v 5 Chúa khiển trách các dân; Chúa tiêu diệt kẻ ác, xóa tên chúng nó mãi mãi.
\s5
\v 6 Quân thù chỉ còn lại tàn tích khi Ngài phá đổ các thành của chúng. Mọi ký ức về chúng đều tan biến.
\s5
\v 7 Nhưng Chúa Hằng Hữu còn đến đời đời; Ngài lập ngai Ngài để thi hành công lý.
\s5
\v 8 Ngài sẽ xét xử thế gian bằng sự công bình, và sẽ phán quyết công bình về các dân.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu cũng sẽ là thành lũy cho kẻ bị áp bức, là nơi ẩn náu lúc nguy nan.
\s5
\v 10 Những người biết danh Ngài đều tin cậy Ngài, vì Ngài, lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài chẳng ruồng bỏ kẻ nào tìm kiếm Ngài.
\s5
\v 11 Hãy ca hát chúc tụng Chúa Hằng Hữu, Đấng cai trị ở Si-ôn; hãy rao cho các dân những việc Ngài đã làm.
\s5
\v 12 Vì Thiên Chúa không quên đòi nợ máu; Ngài nhớ đến tiếng kêu của kẻ khốn cùng.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu ôi, xin thương xót con; hãy xem con bị những kẻ ghét mình áp bức như thế nào, lạy Đấng có thể giật con khỏi nanh vuốt của tử thần.
\s5
\v 14 Ồ, để con có thể rao ra mọi lời chúc tụng Ngài. Tại cổng của các thiếu nữ Si-ôn, con sẽ vui mừng trong sự cứu rỗi của Ngài.
\s5
\v 15 Các dân đã lún xuống hố mà họ đã đào; chân họ bị vướng vào bẫy lưới mà họ đã đặt.
\s5
\v 16 Chúa Hằng Hữu đã khiến người ta biết đến Ngài; Chúa đã thi hành sự phán xét; kẻ ác bị chính các việc họ làm gài bẫy. Sê-la
\s5
\v 17 Kẻ ác sẽ bị đuổi về và đưa vào âm phủ, vốn là số phận dành cho mọi dân quên Thiên Chúa.
\s5
\v 18 Vì kẻ thiếu thốn sẽ không bị bỏ quên mãi mãi, kẻ khốn cùng cũng sẽ không mãi bị vỡ mộng.
\s5
\v 19 Lạy Chúa Hằng Hữu, xin trổi dậy; xin đừng để con người thắng Ngài; nguyện các dân bị phán xét trước mặt Ngài.
\s5
\v 20 Chúa Hằng Hữu ôi, xin hãy khiến chúng hoảng kinh; nguyện các dân biết rằng họ chỉ là người phàm. Sê-la
\s5
\c 90
\p
\v 1 Lạy Chúa, trải suốt mọi thế hệ, Chúa là nơi trú ẩn của chúng con.
\s5
\v 2 Trước khi núi non được hình thành, trước khi Chúa tạo ra trái đất và thế giới, từ trước vô cùng cho đến đời đời, Chúa là Thiên Chúa.
\s5
\v 3 Chúa trả người ta về với cát bụi, và Ngài phán: “Hỡi con cháu loài người, hãy trở về.”
\s5
\v 4 Vì một ngàn năm trước mắt Chúa như ngày hôm qua, đã qua đi, như một canh đêm.
\s5
\v 5 Chúa đùa chúng đi như trong cơn nước lũ và chúng ngủ; ban mai chúng giống như cỏ mới mọc.
\s5
\v 6 Vào buổi sáng nó nở hoa, tăng trưởng; đến chiều nó héo khô đi.
\s5
\v 7 Thật, chúng con bị tiêu hao vì cơn giận của Chúa, chúng con kinh khiếp bởi cơn thạnh nộ Ngài.
\s5
\v 8 Chúa đã đặt các việc ác của chúng con trước mặt Chúa, đặt tội lỗi kín giấu của chúng con trong ánh sáng hiện diện của Ngài.
\s5
\v 9 Cuộc đời chúng con qua đi dưới cơn giận của Chúa; năm tháng chúng con vụt qua tựa một tiếng thở dài.
\s5
\v 10 Tuổi thọ chúng con là bảy mươi, thậm chí khỏe mạnh thì được tám mươi; nhưng ngay cả những năm tháng tươi đẹp nhất cũng đầy gian truân, phiền muộn. Thật, chúng qua nhanh và chúng con bay mất đi.
\s5
\v 11 Ai biết được mức độ của cơn giận Chúa; cơn thạnh nộ Chúa ngang bằng với nỗi sợ hãi nó gây ra.
\s5
\v 12 Vậy nên xin hãy dạy chúng con biết suy xét cuộc đời mình để chúng con sống khôn ngoan.
\s5
\v 13 Chúa Hằng Hữu ôi, xin Chúa quay trở lại! Sẽ còn bao lâu nữa? Xin thương xót các tôi tớ Chúa.
\s5
\v 14 Vào buổi sáng, xin lấy lòng thành tín về giao ước Chúa mà thỏa đáp chúng con để chúng con được hân hoan, vui sướng trọn các ngày của mình.
\s5
\v 15 Xin khiến chúng con vui mừng ứng với số ngày Chúa hành hại chúng con, với số năm chúng con chịu gian khổ.
\s5
\v 16 Nguyện các tôi tớ Chúa thấy được công việc Chúa, nguyện con cháu chúng con thấy được sự oai nghi của Ngài.
\s5
\v 17 Nguyện ơn của Chúa là Thiên Chúa chúng con ở trên chúng con; xin giúp công việc của tay chúng con được thịnh vượng; đúng vậy, xin khiến công việc tay chúng con được thành công.
\s5
\c 91
\p
\v 1 Người nào sống trong nơi trú ẩn của Đấng Chí Cao sẽ được ở dưới bóng của Đấng Toàn Năng.
\s5
\v 2 Tôi sẽ nói về Chúa Hằng Hữu, rằng: “Ngài là nơi nương náu và đồn lũy của tôi, là Thiên Chúa tôi, tôi tin cậy Ngài.”
\s5
\v 3 Vì Ngài sẽ giải cứu anh khỏi bẫy của kẻ săn đuổi và khỏi tai họa chết chóc.
\s5
\v 4 Ngài sẽ lấy cánh Ngài bao phủ anh, và dưới cánh Ngài anh sẽ tìm được nơi ẩn náu. Sự chân thật của Ngài là khiên, là mộc che chở anh.
\s5
\v 5 Anh sẽ không sợ sự hãi hùng ban đêm, hoặc tên bay ban ngày,
\s5
\v 6 tai họa hoành hành trong đêm tối, hay bệnh tật xảy ra lúc giữa trưa.
\s5
\v 7 Có thể hàng ngàn người sẽ gục ngã cạnh anh, cả vạn người ngã chết bên phải anh, nhưng nó sẽ không đụng đến anh.
\s5
\v 8 Anh chỉ cần để ý rồi sẽ thấy hình phạt dành cho kẻ ác.
\s5
\v 9 Vì Chúa Hằng Hữu là nơi ẩn náu của tôi! Nên anh cũng hãy lấy Đấng Chí Cao làm nơi ẩn náu cho mình.
\s5
\v 10 Sẽ chẳng có điều dữ nào đuổi kịp anh; cũng chẳng có hoạn nạn nào đến gần nhà anh.
\s5
\v 11 Vì Chúa sẽ ban lệnh cho thiên sứ Ngài che chở anh, bảo vệ anh trong mọi bước đường.
\s5
\v 12 Họ sẽ dùng tay nâng anh lên để anh khỏi trượt chân và ngã té trên đá.
\s5
\v 13 Anh sẽ chà nát sư tử và rắn hổ lục dưới chân; anh sẽ dẫm đạp sư tử tơ và rắn.
\s5
\v 14 Vì người hết lòng với Ta, nên Ta sẽ giải cứu người. Ta sẽ bảo vệ người vì người trung thành với Ta.
\s5
\v 15 Khi người kêu cứu Ta, Ta sẽ đáp lời người. Ta sẽ ở với người giữa cơn hoạn nạn; Ta sẽ cho người được thắng và sẽ tôn vinh người.
\s5
\v 16 Ta sẽ cho người được thỏa mãn sống lâu và tỏ cho người thấy sự cứu rỗi của Ta.
\s5
\c 92
\p
\v 1 Thật đáng cảm tạ Chúa Hằng Hữu, Đấng Chí Cao, và hát ca ngợi danh Ngài,
\s5
\v 2 buổi sáng công bố sự thành tín Chúa, hằng đêm rao ra sự chân thật Ngài,
\s5
\v 3 bằng đàn hạc mười dây hòa với âm điệu của đàn lia.
\s5
\v 4 Vì, lạy Chúa Hằng Hữu, Chúa đã khiến con vui sướng bởi các việc Ngài làm. Con sẽ hát ca vui mừng vì những công việc của tay Chúa.
\s5
\v 5 Lạy Chúa Hằng Hữu, các công việc Ngài thật vĩ đại! Các tư tưởng Chúa rất thâm sâu.
\s5
\v 6 Kẻ đần độn chẳng biết; kẻ ngu dại cũng không hiểu điều này:
\s5
\v 7 Khi kẻ ác mọc lên như cỏ, thậm chí khi mọi kẻ làm ác đều hưng thịnh, thì chúng vẫn bị định cho sự hủy diệt đời đời.
\s5
\v 8 Nhưng, Chúa Hằng Hữu ôi, Ngài sẽ trị vì mãi mãi.
\s5
\v 9 Thật, lạy Chúa Hằng Hữu, xin hãy nhìn xem các kẻ thù Ngài; mọi kẻ làm ác đã bị tan tác.
\s5
\v 10 Chúa đã khiến sừng con giương lên như sừng bò rừng; con được xức dầu mới.
\s5
\v 11 Mắt con đã thấy sự suy tàn của các kẻ thù mình; tai con đã nghe về sự diệt vong của quân thù tàn ác.
\s5
\v 12 Người công chính sẽ phát triển giống như cây cọ; họ sẽ tăng trưởng giống như cây bá hương Li-ban.
\s5
\v 13 Họ được trồng trong nhà của Chúa Hằng Hữu; họ lớn lên trong sân đền của Thiên Chúa chúng ta.
\s5
\v 14 Họ sinh trái ngay cả lúc về già, họ cứ tươi xanh mãi,
\s5
\v 15 để công bố rằng Chúa Hằng Hữu là công bình. Ngài là vầng đá của tôi, trong Ngài chẳng có sự bất chính.
\s5
\c 93
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu trị vì; Ngài khoác lên mình vẻ oai nghi; Chúa Hằng Hữu mặc lấy sức mạnh; Ngài mang sức mạnh khác nào dây nịt lưng. Thế giới được vững lập; nó không thể bị dịch chuyển.
\s5
\v 2 Ngôi Chúa được lập từ thời cổ; Chúa hằng có từ trước vô cùng.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, các đại dương dâng lên; chúng đã lên tiếng; những cơn sóng đại dương vỗ đập và gào thét.
\s5
\v 4 Vượt trên nhiều cơn sóng vỗ, những cơn sóng lớn vỗ bờ, Chúa Hằng Hữu ngự trên cao quyền năng.
\s5
\v 5 Các mạng lệnh oai nghiêm Ngài rất đáng tin cậy; lạy Chúa Hằng Hữu, sự thánh khiết trang điểm nhà Ngài đến đời đời.
\s5
\c 94
\p
\v 1 Lạy Chúa Hằng Hữu, là Thiên Chúa báo ứng, là Thiên Chúa báo thù, xin chiếu soi trên chúng con.
\s5
\v 2 Lạy Đấng phán xét trái đất, xin trỗi dậy báo trả xứng đáng bọn kiêu ngạo.
\s5
\v 3 Chúa Hằng Hữu ôi, kẻ ác sẽ còn vui mừng, kẻ ác sẽ còn hân hoan đến bao giờ?
\s5
\v 4 Chúng tuôn ra toàn lời kiêu căng, thách thức, chúng đều huyênh hoang.
\s5
\v 5 Chúa Hằng Hữu ôi, chúng tiêu diệt chính dân Chúa; chúng gây khốn đốn cho dân tộc đã thuộc về Ngài.
\s5
\v 6 Chúng giết chết góa phụ và kiều dân, chúng sát hại kẻ mồ côi.
\s5
\v 7 Chúng bảo: “Chúa Hằng Hữu chẳng thấy, Thiên Chúa của Gia-cốp chẳng để ý đâu.”
\s5
\v 8 Hỡi lũ đần độn, các người phải hiểu chứ; này bọn ngu dại, khi nào các người mới chịu học biết đây?
\s5
\v 9 Đấng làm ra lỗ tai lại không nghe được sao? Đấng tạo dựng con mắt lại không nhìn thấy sao?
\s5
\v 10 Đấng đoán phạt các dân lại chẳng sửa phạt sao? Ngài là Đấng ban sự hiểu biết cho người ta.
\s5
\v 11 Chúa Hằng Hữu biết ý tưởng của loài người, rằng chúng chỉ là đồi bại.
\s5
\v 12 Chúa Hằng Hữu ôi, phước cho kẻ được Ngài chỉ dạy, tức kẻ được Chúa dạy cho luật pháp Ngài.
\s5
\v 13 Ngài cho người được yên nghỉ trong thời khốn khổ cho đến khi hầm dành cho kẻ ác đào xong.
\s5
\v 14 Vì Chúa Hằng Hữu sẽ không bỏ dân Ngài hay từ bỏ cơ nghiệp Ngài.
\s5
\v 15 Vì lẽ công bình sẽ thắng hơn; và mọi người ngay thẳng sẽ noi theo đó.
\s5
\v 16 Ai sẽ trỗi dậy bảo vệ con trước những kẻ làm dữ? Ai sẽ đứng lên bênh vực con trước kẻ ác?
\s5
\v 17 Nếu Chúa Hằng Hữu không cứu giúp con, thì con đã sớm nằm xuống trong chốn tĩnh lặng.
\s5
\v 18 Khi con nói: “Chân con trượt ngã” thì, lạy Chúa Hằng Hữu, sự thành tín Chúa đỡ con lên.
\s5
\v 19 Khi trong lòng con có nhiều mối lo âu, thì sự an ủi Chúa khiến con vui sướng.
\s5
\v 20 Ngai của sự hủy diệt, tức kẻ dùng luật lệ tạo ra bất công có thể liên minh với Chúa được sao?
\s5
\v 21 Chúng cùng lập mưu tước đoạt mạng sống người công chính, chúng kết án tử hình người vô tội.
\s5
\v 22 Nhưng Chúa Hằng Hữu luôn là đồn lũy tôi, Thiên Chúa tôi vẫn luôn là vầng đá ẩn náu cho tôi.
\s5
\v 23 Chúa sẽ báo trả trên chúng chính tội lỗi của chúng, và sẽ diệt chúng trong chính sự gian ác của chúng. Thiên Chúa Hằng Hữu của chúng ta sẽ tiêu diệt chúng.
\s5
\c 95
\p
\v 1 Nào, hãy đến, hãy hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu; hãy hát ca ngợi vầng đá cứu rỗi của mình cách vui mừng.
\s5
\v 2 Hãy bước vào sự hiện diện của Chúa với lòng biết ơn; hãy dùng các Thi Thiên ca ngợi mà hát mừng Ngài.
\s5
\v 3 Vì Chúa Hằng Hữu là Thiên Chúa cao cả, là Vua lớn siêu việt hơn mọi thần.
\s5
\v 4 Các vực sâu của đất ở trong tay Chúa; các đỉnh núi cao thuộc về Ngài.
\s5
\v 5 Biển thuộc về Chúa, vì Ngài đã làm nên nó, còn đất khô cũng do tay Ngài tạo ra.
\s5
\v 6 Nào, hãy đến, chúng ta hãy cúi xuống thờ lạy; hãy quỳ xuống trước Chúa Hằng Hữu, Đấng Tạo Hóa của chúng ta.
\s5
\v 7 Vì Ngài là Thiên Chúa chúng ta, còn chúng ta là dân của đồng cỏ Ngài, là chiên trong tay Ngài. Ngày hôm nay ôi, ước gì các ngươi nghe tiếng Ngài!
\s5
\v 8 “Đừng cứng lòng như tại Mê-ri-ba, hoặc như trong ngày Ma-sa ở hoang mạc,
\s5
\v 9 khi mà cha ông các con thách thức thẩm quyền Ta và thử lòng kiên nhẫn Ta, cho dầu họ đã chứng kiến các việc Ta làm.
\s5
\v 10 Vì suốt bốn mươi năm Ta nổi giận với thế hệ đó và bảo: Đây là dân có lòng lầm lạc; chúng chẳng biết các đường lối Ta.
\s5
\v 11 Vì vậy, trong cơn giận, Ta đã thề rằng chúng sẽ chẳng bao giờ được vào nơi yên nghỉ của Ta.”
\s5
\c 96
\p
\v 1 Ôi, hãy hát cho Chúa Hằng Hữu một bài ca mới; hỡi cả trái đất, hãy hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 2 Hãy hát cho Chúa Hằng Hữu, chúc tụng danh Ngài; hằng ngày hãy công bố sự cứu rỗi của Ngài.
\s5
\v 3 Hãy tuyên rao vinh quang Chúa giữa các nước, các công việc kỳ diệu của Ngài giữa mọi dân.
\s5
\v 4 Vì Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại và rất đáng ca ngợi. Ngài phải được kính sợ hơn mọi thần khác.
\s5
\v 5 Vì tất cả các thần của các dân đều là hình tượng, trong khi Chúa Hằng Hữu là Đấng làm nên các tầng trời.
\s5
\v 6 Sự rực rỡ và oai nghi ở trước mặt Ngài. Sức mạnh và vẻ đẹp ở trong nơi thánh Ngài.
\s5
\v 7 Hãy quy cho Chúa Hằng Hữu, hỡi các chi tộc trong các dân, hãy quy vinh quang và sức mạnh cho Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 8 Hãy quy cho Chúa Hằng Hữu vinh quang xứng đáng với danh Ngài. Hãy đem lễ vật vào các sân đền Ngài.
\s5
\v 9 Hãy sấp mình xuống thờ lạy Chúa Hằng Hữu trước sự rực rỡ thánh khiết của Ngài.
\s5
\v 10 Hãy nói giữa các nước, rằng: “Chúa Hằng Hữu cai trị.” Thế giới cũng được vững lập, không thể rúng động. Chúa phán xét các dân cách công bằng.
\s5
\v 11 Nguyện các tầng trời vui sướng, nguyện trái đất hân hoan; nguyện biển cả vang tiếng ầm ầm, và mọi vật dưới biển reo lên hoan hỉ.
\s5
\v 12 Nguyện các đồng ruộng cùng mọi vật trong đó vui mừng. Nguyện mọi cây cối trong rừng lớn tiếng reo vui
\s5
\v 13 trước mặt Chúa Hằng Hữu, vì Ngài sắp ngự đến. Ngài sắp ngự đến để phán xét trái đất. Ngài sẽ phán xét thế giới bằng sự công chính, phán xét các dân bằng sự thành tín.
\s5
\c 97
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu cai trị; nguyện đất hoan hỉ; nguyện các vùng duyên hải vui mừng.
\s5
\v 2 Mây và bóng tối bao quanh Ngài. Sự công chính và công bằng là nền móng của ngôi Ngài.
\s5
\v 3 Lửa đi trước mặt Ngài thiêu đốt các cừu địch Ngài mọi phía.
\s5
\v 4 Ánh chớp của Ngài thắp sáng thế giới; trái đất thấy và run rẩy.
\s5
\v 5 Núi non tan chảy như sáp trước mặt Chúa Hằng Hữu, Chúa của cả trái đất.
\s5
\v 6 Bầu trời rao ra sự công bình của Chúa, và muôn dân đều nhìn thấy vinh quang Ngài.
\s5
\v 7 Mọi kẻ thờ lạy tượng chạm đều sẽ hổ thẹn, tức những kẻ khoe khoang về các hình tượng chẳng ra gì toàn thể chư thần các người, hãy sấp mình xuống trước Chúa.
\s5
\v 8 Chúa Hằng Hữu ôi, Si-ôn đã nghe và vui sướng; các thành của Giu-đa đều hân hoan vì các sắc lệnh công chính của Chúa.
\s5
\v 9 Vì, lạy Chúa Hằng Hữu, Ngài là chí cao trên khắp trái đất. Chúa được tôn cao trên hết mọi thần.
\s5
\v 10 Hỡi những người yêu mến Chúa Hằng Hữu, hãy ghét điều dữ! Chúa bảo vệ mạng sống những người trung tín của Ngài, và Ngài cứu họ khỏi tay kẻ ác.
\s5
\v 11 Ánh sáng tỏa rạng cho người công chính, niềm vui tỏa ra cho kẻ có lòng thành thật.
\s5
\v 12 Hỡi người công chính, hãy vui mừng nơi Chúa Hằng Hữu; hãy cảm tạ khi nhớ đến sự thánh khiết của Ngài.
\s5
\c 98
\p
\v 1 Hãy hát cho Chúa Hằng Hữu một bài ca mới, vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu; bàn tay phải Ngài và cánh tay thánh của Chúa đã đem lại chiến thắng cho Ngài.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu đã tỏ sự cứu rỗi của Ngài ra; Chúa đã công khai bày tỏ sự công chính Ngài cho mọi dân tộc.
\s5
\v 3 Chúa nhớ lại lòng trung nghĩa và thành tín Ngài dành cho nhà Y-sơ-ra-ên; mọi chốn tận cùng trái đất sẽ nhìn thấy chiến thắng của Thiên Chúa chúng ta.
\s5
\v 4 Hỡi cả trái đất, hãy lớn tiếng vui mừng cho Chúa Hằng Hữu; hãy bật lên tiếng ca vui mừng, hãy hát ca ngợi Chúa.
\s5
\v 5 Hãy dùng đàn hạc hát ca ngợi Chúa Hằng Hữu, tức đàn hạc cùng bài hát du dương.
\s5
\v 6 Hãy vui mừng thổi vang kèn với tù và trước mặt Vua là Chúa Hằng Hữu.
\s5
\v 7 Nguyện biển và mọi vật dưới biển, nguyện thế gian và những người sống trong đó đều la lớn tiếng.
\s5
\v 8 Nguyện các sông đều vỗ tay, và các núi reo mừng.
\s5
\v 9 Chúa Hằng Hữu đang đến phán xét trái đất; Ngài sẽ dùng sự công chính phán xét thế giới, dùng sự công bằng phán xét các dân.
\s5
\c 99
\p
\v 1 Chúa Hằng Hữu cai trị; các dân hãy run sợ. Ngài ngự trị trên các chê-ru-bin; trái đất rúng động.
\s5
\v 2 Chúa Hằng Hữu thật vĩ đại tại Si-ôn; Ngài được tôn lên trên hết các nước.
\s5
\v 3 Nguyện họ ca ngợi danh lớn đáng sợ của Chúa; Ngài là thánh.
\s5
\v 4 Vua thật mạnh mẽ, và yêu mến sự công bình. Ngài đã thiết đặt sự ngay thẳng; Chúa đã tạo ra luật công bình trong Gia-cốp.
\s5
\v 5 Hãy ca ngợi Thiên Chúa Hằng Hữu chúng ta và thờ phượng nơi bệ chân Ngài. Ngài là thánh.
\s5
\v 6 Môi-se và A-rôn thuộc trong số các thầy tế lễ Ngài, còn Sa-mu-ên là một trong những kẻ kêu cầu danh Ngài. Họ cầu nguyện cùng Ngài, thì Ngài đáp lời họ.
\s5
\v 7 Ngài phán với họ từ trong trụ mây. Họ gìn giữ các mạng lệnh hệ trọng của Chúa cùng các luật lệ mà Ngài ban cho.
\s5
\v 8 Lạy Thiên Chúa Hằng Hữu chúng con, Chúa đã đáp lời họ. Chúa là Thiên Chúa đã tha thứ cho họ, dầu Ngài có hình phạt các việc tội lỗi của họ.
\s5
\v 9 Hãy ca ngợi Thiên Chúa Hằng Hữu của chúng ta, và thờ phượng tại núi thánh Ngài, vì Thiên Chúa Hằng Hữu chúng ta là thánh.
\s5